ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

Archive for the ‘Đối chiếu ngôn ngữ’ Category

Phân tích đối chiếu ngôn ngữ trong việc dạy và học tiếng

Posted by daothu09 on August 23, 2009

29 = Bai bao HT Lien A29 = Bai bao HT Lien A (1)29 = Bai bao HT Lien A (2)

 

Dr. ĐÀO Hồng Thu

Đại học Bách khoa Hà Nội

I – Dẫn nhập

Trong quá trình sử dụng ngoại ngữ và dịch thuật, văn bản là công cụ không thể thiếu. Hiện nay, các thể loại văn bản tiếng Việt và tiếng Anh đang được sử dụng nhiều nhất trong giao tiếp. Ngữ pháp văn bản tiếng Việt và tiếng Anh là mục tiêu và đối tượng cần chú ý nhất trong quá trình dạy và học tiếng Anh, cũng như dịch thuật Anh – Việt và Việt – Anh.

Theo các nghiên cứu ban đầu của chúng tôi, cần thiết phải có các tài liệu ngữ pháp đối với các văn bản mang đặc tính chuyên ngành dưới dạng đối chiếu giữa tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ được học hoặc nghiên cứu nhằm giúp người học hoặc nghiên cứu tiếp nhận một cách nhanh chóng các kiến thức tiên tiến bằng ngoại ngữ. Hơn thế nữa, trên cơ sở ngữ pháp được học, người học có thể nâng cao trình độ kiến thức chuyên môn bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình và làm phong phú thêm ngôn ngữ dân tộc.

Thực tế lịch sử phát triển của tri thức khoa học thể hiện một quá trình liên tục và có tính kế thừa. Nội dung của các thuật ngữ về nghiên cứu đối chiếu cũng được xác định trong quá trình phát triển biện chứng lịch sử đó.

Thuật ngữ “đối chiếu” thường được dùng để chỉ phương pháp hoặc phân ngành nghiên cứu lấy đối tượng chủ yếu là hai hay nhiều ngôn ngữ. Mục đích của nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ là làm sáng tỏ những nét tương đồng và không tương đồng hoặc chỉ làm sáng tỏ những nét không tương đồng của hai hay nhiều ngôn ngữ. Nguyên tắc nghiên cứu chủ yếu của đối chiếu ngôn ngữ là nguyên tắc đồng đại.

Trong các tài liệu bằng tiếng Nga, thuật ngữ “đối chiếu ngôn ngữ” (phương pháp đối chiếu, ngôn ngữ học đối chiếu) được đưa vào sử dụng khá sớm bởi các nhà ngôn ngữ học như E.D.Polivanov (1933), V.D.Arakin (1946), V.H.Jaxeva (1960), V.G.Gak (1961), N.P.Fedorov (1961), O.C.Akanova (1966) và v.v. Từ 1970 đến nay, trong ngôn ngữ học hiện đại, thuật ngữ được sử dụng nhiều hơn cả là “ngôn ngữ học đối chiếu” (contrastive linguistics).

Trong các tài liệu bằng tiếng Anh, lúc đầu được phổ biến là thuật ngữ “so sánh” (comparative) với nội dung đối chiếu. Từ năm 1960 trở về đây, thuật ngữ “ngôn ngữ học đối chiếu” (contrastive linguistics) bắt đầu được sử dụng phổ biến, dần dần thay thế cho thuật ngữ “so sánh” (comparative). Tuy nhiên, trong ngôn ngữ học Anh, các thuật ngữ truyền thống được dùng tương đối lâu dài. Ví du, trong các công trình của Haliday, Mackintơn, Tơrevưn và một số tác giả khác, thuật ngữ “so sánh” (comparative) vẫn được sử dụng đến năm 1961, còn Elie đã dùng thuật ngữ “comparative” với nghĩa đối chiếu cho đến năm 1966.

Theo từ điển nhiều tập Oxford (1933), tính từ “comparative” được định nghĩa căn cứ vào cách dùng của từ này khoảng cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX. Nội dung nghĩa thường nhấn mạnh đối chiếu những điểm khác nhau giữa hai hoặc hơn hai đối tượng được khảo sát, theo thời gian, thuật ngữ “đối chiếu” được sử dụng với nghĩa mở rộng để chỉ đúng hiện thực nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ.

Trong các tài liệu bằng tiếng Pháp, việc sử dụng thuật ngữ “đối chiếu” cũng diễn ra tương tự: thời kì đầu sử dụng thuật ngữ “comparée” và các từ phái sinh của nó. Sau đó, thuật ngữ “contrastive” được thay thế cho “comparative” mang nghĩa đối chiếu và ngày càng được sử dụng rộng rãi (Potie 1971, Duboa 1973, Gato 1974, Pioro 1977 và v.v.). Hiện nay, trong các tài liệu bằng tiếng Pháp thường sử dụng phổ biến thuật ngữ “linguistique contrastive” (hoặc differentielle). Tương ứng với thuật ngữ này, trong các tài liệu tiếng Nga thường sử dụng “контративная лингвистика” của các tác giả V.G.Gak và A.B.Fedorov.‎ ‎ ‎ ‎ ‎‎  

II – Đối chiếu các ngôn ngữ

Đối chiếu các ngôn ngữ cho khả năng xác định không chỉ các dữ kiện và hiện tượng có các chức năng tương tự trong các ngôn ngữ được đối chiếu, mà còn xác định vị trí của chúng trong các hệ thống theo chức năng. Ví dụ, khi đề cập đến hệ thống các phương tiện mang nghĩa chỉ hành động, có thể nói rằng trong tiếng Anh tiếp tố -er chắc chắn là hạt nhân của hệ thống chức năng các phương tiện tạo ra danh từ chỉ vật mang hành động, hơn nữa, tiếp tố này có khả năng to lớn trong việc tạo lập các danh từ trên cơ sở một động từ bất kì. Trong tiếng Việt, nhân tố được dùng để tạo từ chỉ người hành động thường là từ riêng biệt và được gọi là từ tố, ví dụ “viên” trong các từ nhân viên, sinh viên, viên chức và v.v.

Nghiên cứu đối chiếu ngữ pháp trong văn bản khoa học giải quyết các quan hệ tương đồng và không tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ khoa học. Trong phân tích đối chiếu ngôn ngữ, các hiện tượng ngôn ngữ càng giống nhau thì càng có nhiều tương đồng về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ được đối chiếu. Ví dụ, khi đối chiếu tiếng Việt với tiếng Hán hoặc với tiếng Thái thì mức độ giống nhau nhiều hơn là đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh, tiếng Nga hoặc tiếng Bun. Trong trường hợp đối chiếu các ngôn ngữ rất khác nhau về loại hình thì sẽ tìm thấy nhiều điểm khác nhau về cấu trúc và hoạt động của ngôn ngữ. Sự khác nhau này có tính hệ thống, khái quát (thanh điệu trong tiếng Việt, cách trong tiếng Nga v.v.). Nếu đối chiếu tiếng Việt với tiếng Anh thì sẽ tìm thấy nhiều điểm giống nhau hơn trong ngôn ngữ (cùng là các ngôn ngữ phân tích tính, trật tự câu rõ ràng v.v.). Trong các ngôn ngữ khi đối chiếu luôn tồn tại sự không tương đồng về ngữ pháp, ngữ nghĩa hoặc tuyến dẫn xuất nghĩa phái sinh. Ví dụ, từ loại tiếng Việt và tiếng Anh có sự không tương đồng về số lượng và loại hình.

Sự không tương đồng về nghĩa thể hiện cả ở khái niệm ngữ nghĩa của từ, ví dụ, các sắc thái về mầu sắc là không như nhau trong cả hai ngôn ngữ Anh và Việt: từ blue tiếng Anh được chuyển dịch sang tiếng Việt với hai nghĩa xanh lơ xanh nước biển. Mầu sắc trong tiếng Việt được thể hiện bằng các từ theo mô hình hợp nghĩa, phụ nghĩa và láy lại để tạo ra hàng loạt đơn vị ngôn ngữ với sắc thái chi tiết hơn so với từ chỉ mầu sắc trong tiếng Anh, ví dụ: xanh – xanh xanh, xanh nhạt, xanh thắm, xanh da trời, xanh nõn chuối, xanh nước biển, xanh biếc (biêng biếc), xanh lè, xanh lục, xanh thổ cẩm, xanh cẩm thạch, xanh rêu ….

Trong hệ thống ngữ pháp tiếng Anh hiện đại không tồn tại phạm trù cách và giống, không có khái niệm hai động từ đối lập nhau: chưa hoàn thành thể / hoàn thành thể, ví dụ như trong tiếng Nga. Phần lớn các cụm từ tiếng Anh được thể hiện ở dạng cụm từ chính phụ, chính xác hơn, ở dạng cụm từ cố định hoặc thành ngữ (phrases). Các cụm từ này được tạo thành trên cơ sở liên kết phụ thuộc, bao gồm hai thành tố: thành tố chính (hạt nhân) – kernel và thành tố phụ (bổ sung từ) – adjunct. Cũng như tiếng Việt, trật tự các thành phần của cụm từ tiếng Anh có ý nghĩa chủ yếu: một danh từ bất kì đứng trước một danh từ khác đều thực hiện chức năng định ngữ, ví dụ :

An air-flow meter – khí cụ đo lưu lượng không khí

Anticorrosive paint – sơn chống gỉ  

Liên kết chính phụ không chỉ được thể hiện ở cụm danh từ, mà còn ở cụm động từ (to work hard, to fly a plane, to decide to stay, to begin singing, to wait for news …), cụm tính từ (very difficult, proud of his son, …).

Có thể thấy rõ rằng trong tiếng Việt và trong tiếng Anh cấu trúc câu cùng tuân thủ một trật tự là C – P – O. Thành phần chính của cấu trúc câu trong cả hai ngôn ngữ Việt và Anh là chủ ngữ S và vị ngữ V, hạt nhân của cấu trúc câu là vị ngữ V. Vị ngữ là thành phần thiết yếu, không thể thiếu trong cấu trúc một câu bất kì, bởi vì nếu thiếu vị ngữ thì không tồn tại tính vị ngữ của cấu trúc câu, nghĩa là không tồn tại sự biểu thị các quan hệ thông báo đối với hiện thực. Chủ ngữ cũng là thành phần cần thiết trong phần lớn các cấu trúc câu, bởi vì nó chỉ nghĩa sự vật của lời nói hoặc văn bản tạo nên cơ sở nội dung trần thuật, và do đó, tạo nên nội dung giao tiếp. Câu có cấu trúc gồm cả chủ ngữ và vị ngữ thì được gọi là câu hai thành phần.

Trong tiếng Việt và tiếng Anh, vị trí các thành phần của câu đều có vai trò quan trọng trong cấu trúc câu. Việc thay đổi vị trí của vị ngữ (vật mang thông tin chủ yếu của câu) đối với chủ ngữ, nghĩa là thay đổi trật tự từ trong cấu trúc câu thường dẫn đến việc nội dung thông báo của câu bị thay đổi, hơn nữa, có thể dẫn đến sự thay đổi cả hình thức cấu trúc câu và sắc thái của nó. Vị trí của vị ngữ đối với chủ ngữ có thể rất đa dạng ở các ngôn ngữ khác nhau. Phần đối chiếu này không hạn chế trong phạm vi hai ngôn ngữ Việt – Anh. Nghiên cứu có thể được mở rộng hơn đối với các ngôn ngữ khác để trên cơ sở này người học có thể phát triển nghiên cứu đối chiếu không chỉ hai ngôn ngữ Việt – Anh, mà còn đối với các ngôn ngữ khác.

Phạm vi đối chiếu có thể được phân định theo các nguyên tắc sau:

- Làm sáng tỏ đặc điểm thể hiện các phạm trù ở ngôn ngữ được nghiên cứu như thời, thể, xác định, không xác định, phạm trù giống, số, cách, đa nghĩa, đồng âm, đồng nghĩa, trái nghĩa v.v.

- Đối chiếu các đặc điểm cấu tạo âm vị, hình vị, từ loại, cú pháp v.v.

- Đối chiếu các đặc điểm hoạt động, hành chức của các hiện tượng, phạm trù ngôn ngữ trong giới hạn các cấp độ.

- Đối chiếu các phong cách chức năng.

- Đối chiếu tiến trình phát triển nhằm làm sáng tỏ các quy luật phát triển và quá trình biến đổi xảy ra trong nội bộ các ngôn ngữ được nghiên cứu.

III – Các phương thức phân tích đối chiếu

Phương thức phân tích đối chiếu cấu trúc thường bắt đầu bằng đối chiếu đơn vị, thành phần và cuối cùng là đối chiếu hệ thống. Nghiên cứu đối chiếu này được thể hiện ở chỗ, qua giao tiếp, khả năng vật chất của các ngôn ngữ được sử dụng là không như nhau: trong tiếng Anh, Nga, Pháp đều có trọng âm từ, song chức năng của trọng âm trong tiếng Nga và Pháp nhiều hơn do cùng loại hình, trọng âm tiếng Việt được thể hiện bằng thanh điệu. Nếu đối chiếu hai ngôn ngữ Việt – Anh, có thể thấy rằng trong tiếng Việt và tiếng Anh có nhiều điểm giống nhau về trọng âm đơn do cùng ngôn ngữ phân tích tính. Một ví dụ khác, trong các ngôn ngữ có cùng một hiện tượng mà khả năng hoàn thành chức năng, phạm vi hoạt động không giống nhau như khu biệt âm vị dài ngắn trong tiếng Anh và tiếng Việt: a (dài/ngắn), i (dài/ngắn) có ý nghĩa âm vị học trong tiếng Anh, còn trong tiếng Việt thì không có hiện tượng ngôn ngữ này.

Phương thức phân tích đối chiếu hoạt động của ngôn ngữ trong giao tiếp là phương thức được sử dụng để xác định tính phổ cập hoặc hạn chế của các hiện tượng ngôn ngữ hoặc của các sự kiện ngôn ngữ tồn tại trong các ngôn ngữ được đối chiếu. Phương thức này cho thấy hoạt động ngôn ngữ được thể hiện rõ nét ở ngôn ngữ này, nhưng không được thể hiện rõ ở ngôn ngữ khác. Ví dụ, xét trên bình diện số lượng từ vay mượn trong tiếng Việt và tiếng Anh thì tiếng Việt chịu sự vay mượn từ nhiều hơn tiếng Anh, hơn nữa, tiếng Việt vay mượn cả các từ tiếng Anh. Ngoài ra, tiếng Việt còn vay mượn từ của tiếng Hán, Pháp và Nga. Tiếng Anh vay mượn từ chủ yếu từ tiếng Pháp và Latin (ngôn ngữ dòng Ấn – Âu). Có sự hoạt động của các từ vay mượn trong các ngôn ngữ Việt và Anh là do hệ quả của các quan hệ loại hình và tiếp xúc khu vực, văn hóa và lịch sử quy định. Một ví dụ khác, trật tự từ trong nhiều ngôn ngữ thường có các đặc điểm khác nhau. Trong tiếng Nga, trật tự từ chặt chẽ có phạm vi hoạt động rất hạn chế, trong khi đó, phạm vi hoạt động của trật tự từ trong tiếng Việt, tiếng Anh lại rất lớn do mang đặc trưng của các ngôn ngữ phân tích tính. Hơn nữa, trật tự từ trong tiếng Việt được thực hiện một cách rất chặt chẽ và nghiêm ngặt do chịu ảnh hưởng của một ngôn ngữ đơn lập (không biến hình).

Phương thức phân tích đối chiếu phát triển được sử dụng để xác định đặc điểm và hướng phát triển của các ngôn ngữ. Sự phát triển ngôn ngữ thể hiện ở các thay đổi cấu trúc nội bộ, phạm vi hoạt động, chức năng của nó trong các mối quan hệ tương ứng với tiến trình phát triển xã hội và lịch sử. Ví dụ, khi so sánh tiếng Việt và tiếng Anh trên bình diện phát triển thì thấy tiếng Việt ngày nay không còn được hoàn toàn như tiếng Nôm trước đây về cấu tạo từ và câu. Trong khi đó, tiếng Anh hầu như không thay đổi. Qua đối chiếu có thể thấy các ngôn ngữ đã trải qua các giai đoạn phát triển nào. Trên cơ sở này có thể phân loại các đặc điểm cấu trúc đồng đại của ngôn ngữ trong các mối quan hệ đối chiếu.

Vấn đề các đặc điểm ngôn ngữ luôn gắn liền với vấn đề về mục đích dạy và học ngoại ngữ như ngôn ngữ thứ hai trong quá trình học tập và giảng dạy. Vấn đề chủ yếu ở đây là hoạt động lời nói bằng ngoại ngữ của người học phải đạt kết quả khả quan.

Phương pháp tối ưu cho việc học ngoại ngữ là quá trình tiếp nhận các cấu trúc ngữ pháp bằng tiếng mẹ đẻ có thể diễn ra ở người học một cách tự động và chuyển dịch được sang ngoại ngữ. Thông thường, khi học ngoại ngữ luôn diễn ra quá trình phân tích đối chiếu ít nhất là hai ngôn ngữ : tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ được học, và ngược lại, ngoại ngữ được học và tiếng mẹ đẻ. L.V.Serba đã nêu một luận điểm quan trọng là không chỉ đối chiếu tiếng nước ngoài với tiếng mẹ đẻ, mà còn đối chiếu tiếng mẹ đẻ với tiếng nước ngoài. Bằng phương thức này, việc học ngoại ngữ là phương tiện tối ưu để hiểu sâu sắc thêm tiếng mẹ đẻ. Nhưng nếu ý nghĩa của ngoại ngữ là to lớn đối với bản ngữ, thì hiển nhiên là bản ngữ cũng có ý nghĩa trọng đại đối với việc học ngoại ngữ. Xuất phát từ những lợi ích của đối chiếu bản ngữ và ngoại ngữ vì các mục đích học tập, tồn tại một số nguyên tắc chung cho việc đối chiếu như vậy.

IV – Một số vấn đề phân tích đối chiếu trong tiếng Việt và tiếng Anh thuộc lĩnh vực khoa học

Đối chiếu ngôn ngữ không phân biệt không gian và biên giới của các ngôn ngữ được đối chiếu. Các ngôn ngữ khi đối chiếu có thể là ngôn ngữ của các dân tộc liền kề, trên cùng lãnh thổ hoặc ở các vùng, miền rất khác nhau trên thế giới.

Tiếng Việt khoa học chỉ bắt đầu phát triển khi đất nước vào giai đoạn mở cửa và thực sự phát triển khi Việt Nam tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập toàn cầu. Quá trình hội nhập đòi hỏi phát triển ngôn ngữ (ngoại ngữ và bản ngữ) để giao lưu quốc tế và chuyển giao công nghệ.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, mặc dù việc định hướng cho giáo dục ngôn ngữ thuộc lĩnh vực khoa học còn chưa rõ nét, song cũng đã có những báo cáo khoa học tại các hội nghị, hội thảo khoa học về ngôn ngữ như các cuộc hội thảo “Ngữ học trẻ” 2002, 2003, 2004, Hội thảo đào tạo Sau đại học – ĐHNN – ĐHQG Hà Nội 2002, các cuộc hội thảo về Ngôn ngữ và Văn hóa tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh v.v. Chúng tôi thấy rằng trong vài năm trở lại đây đã có nhiều công trình nghiên cứu về ngôn ngữ khoa học được trình bày dưới dạng các bài báo cáo khoa học, luận văn cao học, luận án tiến sĩ.

Như vậy, việc nghiên cứu ngôn ngữ Việt thuộc lĩnh vực khoa học đã bắt đầu có bước khởi xướng đáng ghi nhận. Các tác phẩm và tài liệu khoa học được dịch sang tiếng Việt từ các ngoại ngữ khác nhau đã bắt đầu được các nhà ngôn ngữ học đề cập đến khi phân tích đối chiếu ngôn ngữ.

Chúng tôi đã tiến hành khảo cứu các cấu trúc câu thường được sử dụng trong văn bản khoa học được dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt, cụ thể là văn bản dịch “Giới thiệu chung về lí thuyết viễn thông” (General Introduction of Telecommunication Theory) của nhà xuất bản Thanh niên. Trong 162 trang được dịch sang tiếng Việt, có 1743 câu được sử dụng, trong đó:

- Câu đơn: 1279, chiếm 73,38%

- Câu phức: 161, chiếm 9,24%

- Câu ghép: 303, chiếm 17,38%.

Một đặc điểm cần được lưu ý là do chịu ảnh hưởng của việc sử dụng câu trong văn bản khoa học nước ngoài như Anh, Nga, Pháp, v.v. nên trong những năm gần đây xuất hiện xu hướng sử dụng cấu trúc bị động trong văn bản khoa học tiếng Việt, đặc biệt là các văn bản dịch, điều mà trước đây hoàn toàn không phổ biến. Các cấu trúc bị động chiếm tỉ lệ rất cao trong toàn bộ văn bản. Trong số 669 cấu trúc câu bị động được chúng tôi khảo sát, các cấu trúc bị động đơn chiếm đa phần:

- Cấu trúc bị động đơn: 537, chiếm 80,27%

- Cấu trúc bị động phức: 40, chiếm 5,98%

- Cấu trúc bị động ghép: 92, chiếm 13,75%

- Cấu trúc vô nhân xưng chiếm tỉ lệ tương xứng: 118.

Trong quá trình tiếp ngữ pháp văn bản thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học không thể thiếu sự tham gia của khoa học đối chiếu các ngôn ngữ. Đối chiếu là phương pháp nghiên cứu cơ bản của ngôn ngữ học được sử dụng để nhận biết và phân biệt tương đương các cấu trúc, các hoạt động và sự phát triển của ngôn ngữ. Điều này đặc biệt quan trọng đối với việc dịch văn bản, bởi vì nếu không nắm vững được các nguyên tắc đối chiếu ngôn ngữ, người dịch dễ dịch theo cảm tính, đặc biệt đối với các trường hợp khi gặp cấu trúc cú pháp phức tạp.

Hiện nay tồn tại và phát triển phương pháp đối chiếu theo hai chiều. Khi đối chiếu ngôn ngữ hai chiều, luôn xuất hiện các đặc điểm của cả hai ngôn ngữ được đối chiếu. Nguyên tắc đối chiếu hai chiều cho phép phát hiện toàn bộ các giao thoa ngôn ngữ, làm sáng tỏ các dấu hiệu ngôn ngữ chưa được phát hiện khi đối chiếu một chiều của ngôn ngữ thứ nhất, cũng như thứ hai.

Nguyên tắc này đòi hỏi đối chiếu ngôn ngữ cần được tiến hành trên cơ sở cùng một phong cách chức năng. Các văn bản được phân tích đối chiếu cần phải thuộc về cùng thể loại phong cách chức năng. Các văn bản được đối chiếu theo phương pháp này là văn bản khoa học công nghệ viễn thông.

Trước khi tiến hành đối chiếu ngôn ngữ, cần xác định các thuật ngữ sao cho chúng biểu đạt một cách tương đương các hiện tượng được đối chiếu trong cả hai ngôn ngữ, nghĩa là cần tạo lập các đặc điểm tương ứng chung để đối chiếu các hiện tượng ngôn ngữ. Các ngôn ngữ được mô tả bằng thuật ngữ có nội dung hàm chứa khác nhau thì không thể tiến hành đối chiếu với nhau được. Trong phần đối chiếu dưới đây chúng tôi trình bày các điểm không tương đồng về cấu trúc và ngữ nghĩa trong câu dịch so với các cấu trúc câu trong văn bản tiếng Anh và các lỗi mắc phải trong văn bản tiếng Việt.

V – Một số cấu trúc câu dịch từ tiếng Anh sang tiếng Việt không đúng về ngữ nghĩa và cách sửa lỗi.

Cuốn sách “Giới thiệu chung về lí thuyết viễn thông” (General Introduction of Telecommunication Theory) của nhà xuất bản Thanh niên mà chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu có nội dung khoa học thực tiễn và có giá trị. Trong phần dịch sang tiếng Việt tồn tại các lỗi về ngữ nghĩa, phong cách và chính tả.

1. Lỗi thuật ngữ, cụm từ và dấu câu:

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Sau đó ít lâu con người phát sinh ra tín hiệu bằng lửa có khả năng truyền đạt các thông tin có hiệu quả và nhanh chóng khi tới các vùng xa. (tr.23) A little later, men invented the signal fire capable of transmitting messages effectively and rapidly to distant places. (tr.22)

Đối chiếu nghĩa các thuật ngữ phát sinh invented cho thấy: 

Phát sinh: dg. Bắt đầu sinh ra, nảy sinh ra (thường nói về cái không hay). Bệnh cúm thường phát sinh vào đầu mùa hè. Giải quyết mâu thuẫn mới phát sinh. Phát sinh vấn đề. (Viện Ngôn ngữ học, Từ điển tiếng Việt, NXB.Đà nẵng, 2003, tr.769) Invented: v. To discover, as by study or inquiry; to find out; to devise; to contrive or produce for the first time; – applied commonly to the discovery of some serviceable mode, instrument, or machine. (Từ điển New Oxford, 2001)

Như vậy, có thể thấy rằng invented không thể dịch là phát sinh, mà phải dịch là tìm thấy hoặc phát hiện. Trong tiếng Việt, không tồn tại nghĩa con người phát sinh ra. Đây là các thuật ngữ có tương đồng về nghĩa và khó dịch sai.

Đối chiếu các cụm từ tín hiệu bằng lửa signal fire cho thấy việc dịch cụm từ trên là không đúng bởi vì cụm từ signal fire là cụm từ có tương đồng trong tiếng Việt và được dịch là lửa dùng làm dấu hiệu (để ra hiệu, dùng làm tín hiệu).

Trong ngữ pháp Việt và Anh, trạng ngữ chỉ thời gian được phân biệt bởi dấu phẩy nếu đứng đầu câu để làm rõ nghĩa. Vì vậy, khi dịch sang tiếng Việt, dấu phẩy này cần được giữ nguyên vị trí.

Như vậy, câu dịch trên cần phải sửa là:

Sau đó ít lâu, con người đã tìm ra lửa dùng làm tín hiệu có khả năng truyền đạt các thông tin có hiệu quả và nhanh chóng tới các vùng xa.

Trong câu dịch trên, theo chúng tôi, để câu ngắn gọn và dễ tiếp nhận hơn, có thể không dùng các:

Sau đó ít lâu, con người đã tìm ra lửa dùng làm tín hiệu có khả năng truyền đạt thông tin có hiệu quả và nhanh chóng tới các vùng xa.

 2. Lỗi ngữ nghĩa trong câu: 

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Đồng thời việc xác minh này đã đưa ra các dịch vụ đưa thư và thông báo. (tr.25) Also, this invention started the messenger and mail services. (tr.24)

 Đối chiếu nghĩa từ cho thấy started không thể dịch là đã đưa ra mà phải dịch là đã bắt đầu, là khởi nguồn của.

Đối chiếu nghĩa từ cũng cho thấy dịch messenger với nghĩa thông báo là không đúng, mà phải dịch là đưa tin.

Như vậy, câu dịch trên cần sửa là:

Đồng thời việc xác minh này đã bắt đầu các dịch vụ đưa thư và đưa tin.

Câu dịch đã chỉnh sửa trên, tuy nhiên vẫn chưa phù hợp với tư duy và cách vận dụng ngôn ngữ Việt, bởi vì có thể : bắt đầu một hiện tượng (Phát minh bắt đầu được phổ biến rộng rãi.), mà không phải: một hiện tượng bắt đầu một quá trình như câu dịch trên. Do vậy, câu tiếng Anh có thể dịch như sau:

Đồng thời việc xác minh này là khởi nguồn của các hoạt động dịch vụ đưa thư và đưa tin.

3. Lỗi ghép nghĩa từ và dấu câu: 

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Trong thế kỉ 21, việc phát triển áp dụng có tính thực tế về công nghệ liên quan đang tiếp tục phát triển nhanh chóng và trong quá trình đó, cách mạng hóa thế giới chúng ta. (tr.25) In the XXI century, the development and practical applications of related technology have continued to accelerate and, in the process, revolutionized our world. (tr.24)

Đối chiếu nghĩa từ cho thấy cụm từ the development and practical applications bao gồm một từ development và một nhóm từ riêng biệt practical applications được nối với nhau bằng and và được xác định bởi quán từ xác định the. Tương đồng của cụm từ trên trong tiếng Việt là sự phát triển và ứng dụng thực tế.

Đối chiếu nghĩa từ cũng cho thấy các từ development applications đều có gốc của động từ cùng nghĩa là develop apply. Vì vậy, khi chuyển dịch sang tiếng Việt, cụm từ này có thể dịch theo dạng cấu trúc V – O (vị ngữ – phó từ). Đây là một trong các cấu trúc tương đồng Anh – Việt.

Cụm từ in the process tiếng Anh khi nằm giữa hai dấu phẩy thì không còn giữ nguyên ý nghĩa ban đầu, mà trở thành từ đệm, thành ngữ và có tương đồng trong tiếng Việt là cùng lúc. Trong trường hợp trên, từ đệm trong tiếng Việt cũng phải được ngăn cách bởi hai dấu phẩy như trong tiếng Anh.

Như vậy, câu dịch trên cần được chỉnh sửa như sau:

  Trong thế kỉ 21, việc phát triển và ứng dụng thực tế các công nghệ liên quan tiếp tục tăng tốc và,  cùng lúc, cách mạng hóa thế giới chúng ta. 

4. Các loại lỗi khác:

4.1. Lỗi ngữ pháp: 

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Sau chiến tranh, nhu cầu về các hệ tổng đài có khả năng xử lí các cuộc gọi đường dài tự động nhanh chóng đã tăng lên. (tr.33) After the war, the demand for switching systems capable of processing toll calls automatically and rapidly was increased. (tr.32)

Trong tiếng Anh, trạng ngữ được phân biệt bởi vĩ tố -ly và đứng sau động từ và phó từ. Trong tiếng Việt, trạng ngữ có thể phân biệt được nhờ thêm từ một cách. Trong trường hợp dễ làm người đọc hiểu nhầm, các cấu trúc dạng như trên cần được dịch là:

 Sau chiến tranh, nhu cầu về các hệ tổng đài có khả năng tự động và nhanh chóng xử lí các cuộc gọi đường dài đã tăng lên.

Hoặc : Sau chiến tranh, nhu cầu về các hệ tổng đài có khả năng xử lí một cách tự động và nhanh chóng các cuộc gọi đường dài đã tăng lên. 

4.2. Lỗi chuyển dịch cấu trúc : 

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Một kết quả không may mắn là nhiều sự khác biệt của khuôn khổ tín hiệu điều khiển và thủ tục tiến hành. (tr.173) An unfortunate result was that many varieties of control signal format and procedures evolved. (tr.172)

Câu trên có cấu trúc là một trong các cấu trúc đặc trưng trong văn bản khoa học tiếng Việt, nhưng dưới dạng cấu trúc không hoàn toàn giống cấu trúc tiếng Anh. Câu trên cần dịch như sau:

Một điều không may là có sự tiến triển của nhiều loại quy trình và dạng thức tín hiệu điều khiển.

4.3. Lỗi chuyển dịch cấu trúcbothand …” 

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Khuôn khổ điều khiển phụ thuộc vào bản chất của cả hai hệ thống truyền dẫn thiết bị đầu cuối của chúng. (tr.173) The control formats depend on the nature of both the transmission system and its terminal equipment. (tr.172)

 Both trong tiếng Anh tương đương với cả …và …, cả … và cả …Trong trường hợp trên, không thể dịch cả hai … và …, vì cấu trúc này của tiếng Việt không tương đương với both trong tiếng Anh. Do vậy, câu trên cần dịch như sau:

Các dạng thức điều khiển phụ thuộc vào bản chất của cả hệ thống truyền dẫn thiết bị đầu cuối của chúng. Hoặc:

Các dạng thức điều khiển phụ thuộc vào bản chất của cả hệ thống truyền dẫn và cả thiết bị đầu cuối của chúng.

Các dạng thức điều khiển phụ thuộc vào bản chất của cả hai: hệ thống truyền dẫn thiết bị đầu cuối của chúng.

 4.4. Lỗi chuyển dịch các thành phần câu: 

Câu đã được dịch sang tiếng Việt Câu nguyên bản tiếng Anh
Ngoài ra, để thực hiện chuyển mạch phân chia thời gian có thể dùng các chuyển mạch thời gian để trao đổi khe thời gian và chuyển mạch phân chia thời gian để trao đổi theo không gian các khe thời gian được phân chia theo thời gian. (tr.45) In addition, for realization of time division switching, time switches for exchanging time slot and time-shared division switches for exchanging spatially the time divided time slots are avaliable. (tr.44)

Câu trên cần sửa lại như sau:

Ngoài ra, để thực hiện chuyển mạch phân chia thời gian, có thể dùng các chuyển mạch thời gian để trao đổi khe thời gian và dùng chuyển mạch phân chia thời gian để trao đổi theo không gian các khe thời gian được phân chia theo thời gian.

 Tài liệu tham khảo

1. Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt, 1967, KHXH, H.

2. Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên) 1981, Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam, Nxb.ĐH&THCN, H.

3. Trần Ngọc Thêm 1998, Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt, Giáo dục, H.

4. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ 1984, KHXH, H.

5. Vương Toàn (chủ biên) 1998, Việt ngữ học ở nước ngoài, H.

6. Ngôn ngữ và Văn hóa – 990 năm Thăng Long – Hà Nội 2000, Kỉ yếu hội thảo của Hội Ngôn ngữ Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội.  

7. Pụmpanski A.E. 2002, Dịch văn bản khoa học và kĩ thuật sang tiếng Anh. Người dịch : Đào Hồng Thu, KHKT, H.

8. Các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo tiếng Việt thực hành (chương trình dành cho đại học đại cương).

9. Các nguyên tắc phiên âm tiếng nước ngoài (các bài báo, tạp chí 1998, 1999).

10. Các sách về việc soạn thảo các thể loại văn bản khoa học và kĩ thuật.

Posted in Đối chiếu ngôn ngữ | Leave a Comment »

Các cấu trúc chỉ nguyên nhân trong tiếng Nga và tương đương của chúng trong tiếng Việt

Posted by daothu09 on August 13, 2009

22 (a). Luan an TS 2003

ПРИЧИННЫЕ КОНСТРУКЦИИ В РУССКОМ ЯЗЫКЕ И ИХ ЭКВИВАЛЕНТЫ ВО ВЬЕТНАМСКОМ ЯЗЫКЕ (На материале стиля научно – технической литературы)

 ДАО Хонг Тху

 

ПРЕДИСЛОВИЕ

Список знаков и условных сокращении, принятых в исследовании

Список иллюстраций, данных в исследовании

Список моделей, данных в исследовании 

                        СОДЕРЖАНИЕ                                                                                                      

ВВЕДЕНИЕ                                                                                                                

ГЛАВА ПЕРВАЯ – ОБЩЕЕ СВЕДЕНИЕ О СИНТАКСИСЕ СТИЛЯ НАУЧНО-ТЕХНИЧЕСКОЙ ЛИТЕРАТУРЫ

1.1. Проблема синтаксиса научного стиля речи и стиля научно – технической литературы

1.1.1. Научный стиль и его основные специфические черты

1.1.2. Основные виды подстилей научного стиля

1.2. Язык специальности и его соотношение с научным стилем

1.2.1. Язык специальности и его значение в изучении языка научно – технической литературы

1.2.2. Особенности языка научно-технической литературы и его соотношение с научным стилем

1.2.3. Сфера деятельности языка научно-технической литературы   

1.3. Особенности синтаксиса конструкций, характерных для стиля научно-технической литературы

1.3.1. Семаптико – сиитаксические конструкции, характерные для стиля научно-технической литературы

1.3.2. Структурно – семантические конструкции, характерные для стиля научно – технической литературы

1.3.3. Именные конструкции, характерные для стиля научно – технической литературы

1.3.4. Конструкции с сопоставительным значением, характерные для стиля научно – технической литературы

1.4. Выводы по главе I        

ГЛАВА ВТОРАЯ – ПРИЧИННЫЕ КОНСТРУКЦИИ В ПРОСТОМ ПРЕДЛОЖЕНИИ НАУЧНО – ТЕХНИЧЕСКОЙ ЛИТЕРАТУРЫ В РУССКОМ ЯЗЫКЕ И ИХ ЭКВИВАЛЕНТЫ ВО ВЬЕТНАМСКОМ ЯЗЫКЕ

2.1. Общая характеристика простого предложения со значением причинности в научно – технической литературе

2.1.1. Понятие категории причинности в изучении синтаксиса стиля научно – технической литературы

2.1.2. Основные принципы выражения причинных отношений в языке научно – технической литературе

2.1.3. Особенности синтаксиса простого предложения научно – технической литературы

2.2. Причинные конструкции в простом предложении научно – технической литературы в русском языке

2.2.1. Определение причинных конструкций научно – технической литературы по группам функционирования в простом предложении

2.2.2. Причинные конструкции, входящие в состав простого предложения научно – технической литературы в русском языке

2.2.3. Способы выражения причинных конструкций и актуализация их    компонентов в простом предложении научно – технической литературы

2.3. Экви валенты причинных конструкций в составе простого предложения научно – технической литературы во вьетнамском языке

2.3.1. Эквиваленты причинных конструкций в простом предложении научно – технической литературы со значением внешней причины

2.3.2. Эквиваленты причинных конструкций в простом предложении научно – технической литературы с выражением причины – состояния социальной среды

2.3.3.   Эквиваленты   причинных   конструкций   в   составе   простого предложения научно – технической литературы с выражением причины – состояния физической среды

2.3.4. Отличительные черты вьетнамских эквивалентов причинных  конструкций в научно – технических контекстах

2.4. Выводы по главе II

ГЛАВА ТРЕТЬЯ – ПРИЧИННЫЕ КОНСТРУКЦИИ В СЛОЖНОМ ПРЕДЛОЖЕНИИ НАУЧНО – ТЕХНИЧЕСКОЙ ЛИТЕРАТУРЫ В РУССКОМ ЯЗЫКЕ И ИХ ЭКВИВАЛЕНТЫ ВО ВЬЕТНАМСКОМ ЯЗЫКЕ

3.1. Особенности синтаксиса сложного предложения научно – технической литературы

3.1.1. Формы выражения сложного предложения научно – технической литературы

3.1.2. Соотношение между структурными частями в сложном предложении научно – технической литературы

3.1.3. Выражение семантико – синтаксических конструкций в составе сложного предложения научно-технической литературы

3.1.4. Различный характер выражения причинных отношений сложного в сравнении с простым предложения научно – технической литературы

3.2. Стилистические основы причинных конструкций в сложном предложении научно – технической литературы

3.2.1. Стилевое понятие причинных конструкций в сложном предложении научно – технической литературы

3.2.2. Причинные конструкции в сложном предложении и их способы выражения в научно – технической литературе

3.2.3. Характерные компоненты  причинных конструкций в составе сложного предложения научно – технической литературы

3.3. Частотно применяемые в русской научно – технической литературе причинные конструкции в составе сложного предложения

3.3.1. Вводное представление

3.3.2. Причинные конструкции сложных предложений с союзами в научно – технической литературе

3.3.3. Причинные конструкции в бессоюзных сложных предложениях научно – технической литературы

3.3.4. Периферийные конструкции со значением прчинности в сложных предложениях научно – технической литературы

3.3.5. Некоторые модальные особенности значений причинных конструкций в сложных предложениях научно-технической литературы

3.4. Эквиваленты причинных конструкций в сложном предложении научно – технической литературы во вьетнамском языке

3.4.1. Проблема трансляции причинных конструкций в сложных предложениях научно – технической литературы на вьетнамский язык

3.4.2. Особенности вьетнамских эквивалентов сложного предложения научно – технической литературы

3.4.3. Эквиваленты причинных конструкций в сложных предложениях научно – технической литературы во вьетнамском языке

3.5. Выводы по главе III

ЗАКЛЮЧЕНИЕ

ОПУБЛИКОВАННЫЕ РАБОТЫ ПО ТЕМЕ ДИССЕРТАЦИИ

БИБЛИОГРАФИЯ

ИСТОЧНИКИ МАТЕРИАЛОВ

ИСПОЛЬЗОВАННЫЕ СЛОВАРИ

ПРИЛОЖЕНИЕ

Posted in Đối chiếu ngôn ngữ | Leave a Comment »

Về vấn đề từ và thuật ngữ trong văn bản khoa học kĩ thuật – công nghệ

Posted by daothu09 on August 12, 2009

21 = Bai bao NHT 200221 = Bai bao NHT 2002 (1)21 = Bai bao NHT 2002 (2)21 = Bai bao NHT 2002 (3)21 = Bai bao NHT 2002 (4)

  

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đào Hồng Thu

 Đại học Bách khoa Hà Nội

Thành phần từ vựng trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ có thể được phân chia thành: 1) từ vựng thuật ngữ; 2) từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến; 3) các từ tập hợp nghĩa khoa học kĩ thuật.

 1. Từ vựng thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ

Vấn đề nổi cộm ở đây là vấn đề tương quan giữa thuật ngữ và hệ thống thuật ngữ. Ở phương diện ngôn ngữ, vấn đề này cũng là hợp lí nếu chú ý đến các phạm trù đa nghĩa và đơn nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ. Bằng thuật ngữ, có thể biểu thị chính xác, tập trung và tiết kiệm tối đa các khái niệm chung và riêng gắn liền với hoạt động khoa học và kĩ thuật của con người. Yêu cầu chủ yếu đối với thuật ngữ là nghĩa đơn của nó. Trên phương diện thuật ngữ chung thì yêu cầu này được đáp ứng bằng hai phương pháp và phân biệt hai phạm trù thuật ngữ: thuật ngữ khoa học kĩ thuật phổ biến và thuật ngữ chuyên ngành. Chúng ta hãy xét sự khác nhau về mặt nguyên tắc của chúng.

Thuật ngữ khoa học kĩ thuật phổ biến biểu thị khái niệm chung về khoa học kĩ thuật hoặc là của tất cả các lĩnh vực, hoặc là của một lĩnh vực, hoặc là của một chuyên ngành hoặc chuyên ngành hẹp ở giai đoạn phát triển nhất định của chúng.

Thuật ngữ chuyên ngành biểu thị khái niệm từng phần của khoa học kĩ thuật. Chúng thường là đơn vị ngôn ngữ một nghĩa ở giai đoạn phát triển nhất định của chúng.

Có ít thuật ngữ khoa học kĩ thuật phổ biến tương ứng với số lượng hạn chế của các khái niệm khoa học kĩ thuật. Các thuật ngữ này, về nguyên tắc, được sinh ra và mất đi trong lòng ngôn ngữ toàn dân. Căn cứ vào nguồn gốc thì chúng có nhiều nghĩa và không tuân thủ qui định nào.

Thuật ngữ chuyên ngành thì nhiều vô kể, tương ứng với số lượng hoạt động khoa học kĩ thuật và công nghệ không hạn chế của con người. Các thuật ngữ này xuất hiện một cách tự phát trong lòng ngôn ngữ toàn dân, ví dụ: chuột – chuột (của máy tính), cũng như một cách có ý thức bằng cách vay mượn từ các ngôn ngữ khác, theo qui định và trật tự hệ thống, được thể hiện đặc biệt rõ ràng trong các khoa học như thực vật học, động vật học, hóa học. Thuật ngữ chuyên ngành làm phong phú một cách đáng kể ngôn ngữ toàn dân. Hiện nay, trong các ngôn ngữ phát triển có gần 90% từ vựng là thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ. Ví dụ, trong 600 000 từ tiếng Anh của từ điển Vebster (1960) thì có gần 500 000 từ là thuật ngữ chuyên ngành. Tuy nhiên, trong mỗi ngành hẹp của khoa học kĩ thuật thì số lượng thuật ngữ chuyên ngành là rất hạn chế, hơn nữa chúng rất thường được nhắc lại. Đối với ngành hẹp, số lượng thuật ngữ rất ít và không vượt quá 150 – 200 đơn vị. Với sự phát triển của khoa học kĩ thuật, thuật ngữ chuyên ngành đơn nghĩa có thể có nghĩa bổ sung và trở thành thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến đa nghĩa, còn thuật ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến đa nghĩa có thể bị mất nghĩa của mình và trở thành thuật ngữ chuyên ngành đơn nghĩa.          

2. Từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến

Từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến là tập hợp từ vựng của các thuật ngữ được biểu thị bằng từ và cụm từ, phần lớn các từ và cụm từ này là đa nghĩa và đa chức năng. Tương quan giữa số lượng thuật ngữ và từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến trước hết phụ thuộc vào thể loại văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ. Thuật ngữ có ưu thế hơn trong thể loại tài liệu kĩ thuật: trong các bảng liệt kê, cataloge và v.v., từ vựng khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến thường được sử dụng trong thể loại bài báo hoặc sách chuyên khảo.

Các từ khoa học kĩ thuật và công nghệ phổ biến có nguồn gốc nước ngoài thường được ưa thích sử dụng, có thể, dễ phân biệt tư duy khoa học kĩ thuật và công nghệ một cách chính xác hơn. Ví dụ, trong tiếng Anh thay cho động từ “to say” thường sử dụng các động từ “to assert, to state, to declare”, thay cho “to clean” là “to purify”. Như vậy, tương ứng với câu “Xung được truyền.” là câu tiếng Anh “Pulse is initiated.” hoặc “Pulse is generated.”, mà không phải là “Pulse is given.” hoặc “Pulse is sent.”.

 3. Từ là đơn vị tổ chức tư duy trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ

 Về mặt hình thức thì các đơn vị này được biểu thị bằng các liên từ, cụm liên từ, trạng từ, từ và cụm từ đệm, các mệnh đề nhân xưng không xác định, vô nhân xưng và đồng nghĩa. Trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ, các đơn vị tổ chức đó là: các từ dẫn ngữ cảnh lôgích và các từ đặc trưng cho mức độ khách quan của thông tin.

a) Văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ

Văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ đòi hỏi các lập luận phải có tính lôgích hết sức nghiêm ngặt, thông tin trong văn bản phải khách quan và có hệ thống. Từ ngữ trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ đóng vai trò đặc biệt quan trọng, bởi vì chúng thực hiện các chức năng đặc thù của phong cách khoa học kĩ thuật và công nghệ. Các từ mang tính quán ngữ thực hiện chức năng tổ chức dẫn ngữ cảnh lôgích trong văn bản tiếng Anh kĩ thuật không mang sắc thái đặc trưng như các thuật ngữ chuyên ngành. Theo A.L.Pụmpanski, các đơn vị tổ chức này thực hiện nhiều thao tác lôgích, phổ quát đối với phong cách chức năng khoa học kĩ thuật và công nghệ của tất cả các ngôn ngữ trên thế giới. Dựa vào chức năng hoạt động trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ, các đơn vị này có thể là:

* Các quán ngữ với nghĩa khẳng định các lập luận đã được nêu trước đó: 

- also, consequenly, in consequense, hence, thus, therefore: “do đó”;

- therefore,  consequenly, hence, so, thus: “vì thế nên”;

- in this way, in this manner, thus, so: “như vậy”;

- thus, thereby: “do vậy”;

- as a result, as a consequence, in consequence: “kết quả là, hậu quả    là”;

- accordingly, in line, in keeping: “tương ứng với”;

- for that reason: “vì, do”;

- similarly, analogously: “tương tự, như vậy”;

- here, then, thereby, by doing so: “ở đây”;

- in such a case, then: “trong trường hợp này”.

* Các quán ngữ với nghĩa phủ định các lập luận đã nêu:

- however, but: “tuy nhiên”;

- on the other hand, also, again, alternatively: “mặt khác”;

- even so, nevertheless, none the less: “tuy vậy”;

- yet: “vẫn”;

- contrary to this, hence: “ngược lại”.

* Các quán ngữ với nghĩa mở rộng các lập luận đã nêu:

- also, in addition: “ngoài ra”;

- again, in turn: “đến lượt mình”;

- here, also, here again: “và trong trường hợp này”;

- for other reasons: “vì những lí do khác”.

* Các quán ngữ với nghĩa giới hạn các lập luận đã nêu:

- for the purpose: “đối với mục đích này”;

- for such purposes: “đối với các mục đích này”;

- for our purposes: “đối với mục đích của chúng ta”;

- for the purpose in view: “đối với mục đích được đặt ra”;

- toward this end, to this end: “với mục đích này”;

- to do this, for doing this: “đối với điều này”;

- viewed in this way, from this point of view, on this view: “theo quan điểm này”;

- in this respect: “trong quan hệ này”;

- here, now, specifically: “trong trường hợp này”;

- at most: “trong trường hợp tốt nhất”;

- in any case, in any even, if anything: “trong bất cứ trường hợp nào”.

* Các quán ngữ với nghĩa chỉ thời gian thực hiện nghiên cứu:

- first: “đầu tiên”;

- from the very beginning: “ngay từ đầu”;

- from the first, initially, as a start: “ban đầu, trước tiên”;

- so far, thus, to date, to this point: “đến nay”;

- recently: “gần đây”;

- first of all, to begin with: “trước hết”;

- until lately: “đến thời gian gần đây”;

- in the last few years: “trong vài năm trở lại đây”;

- at the time: “trong khi”;

- for some time: “trong khoảng thời gian”;

- during that period: “trong thời gian này”;

- by then: “đến thời điểm đó”;

- this time: “lần này”;

- since: “từ khi”;

- since that time: “từ thời điểm đó”;

- then, next, now, hereafter: “tiếp theo”;

- later, later on, presently: “sau đó”;

- in what follows: “tiếp tục”;

- subsequently, then: “sau đó”;

- in the near future: “trong tương lai gần”;

- in the following year: “trong năm tới”;

- eventually, finally, ultimately: “và cuối cùng, cuối cùng là”;

- hence, ultimately, eventually: “kết quả là, tóm lại”.

* Quán ngữ với nghĩa chỉ ra vị trí mô tả nghiên cứu:

- here: “ở đây, trong sơ đồ dưới đây, ở công trình này”;

- presently: “ở bài báo này”;

- elsewhere: “trong công trình khác”.

* Các quán ngữ với nghĩa chỉ sự lập luận theo trật tự:

- first, firstly: “thứ nhất”;

- second, secondly: “thứ hai”;

- third, thirdly: “thứ ba”;

- above: “ở trên”;

- in the following, later, below: “dưới đây”.

* Các quán ngữ chỉ sự đơn giản hóa, rút gọn hoặc chi tiết hóa lập luận:

- for simplicity, for simplicity’s sake: “để đơn giản”;

- for clarity, for the sake of clarity: “để rõ ràng”;

- for convenience, for the sake of convenience: “để thuận tiện”;

- for details: “để biết chi tiết”;

- otheriwise expressed, or else: “nói cách khác”;

- in short, or briefly: “tóm lại”;

- viz namely, that is to say: “cụ thể là”;

- that is to say, such as, or i.e.: “nghĩa là, tức là”. 

* Các quán ngữ với nghĩa minh họa lập luận.

- for example, by way of example, thus for example, thus, e.g., such as: “ví dụ, ví dụ là, chẳng hạn như”

* Các từ và cụm từ thực hiện liên kết phụ thuộc ở đầu câu mệnh đề:

- that, who, which: “điều mà, người mà, cái mà”;

- whose: “mà của người đó”;

- when: “khi (mà)”;

- where: “nơi (mà)”;

- under which: “dưới chỗ (mà)”;

- among which: “trong số (mà)”;

- from which: “từ chỗ (mà), từ những”;

- through which: “qua chỗ (mà)”;

- whereas: “trong khi”;

- whereby: “bằng cách”;

- wherein: “trong những”. 

Cần nhận thấy rằng do phần các từ và cụm từ đã nêu thực hiện các thao tác lôgích rất giống nhau nên giới hạn nghĩa của chúng trực tiếp phụ thuộc vào nội dung cụ thể trong câu, đoạn văn bản hoặc tổng thể cú pháp lớn (ngữ cảnh).

Các từ tổ chức dẫn ngữ cảnh lôgích có thể đuợc biểu thị trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ bằng các mệnh đề vô nhân xưng và tổ hợp trạng ngữ, cùng thực hiện các chức năng như từ đã nêu trên:

* Các tập hợp từ:

- it follows, it results, it appears from this: “từ đây suy ra”;

- it can be seen from this: “từ đây có thể thấy”;

- whence it appears: “từ đó suy ra”;

- does not follow: “từ đây không suy ra”;

- it used to be thought: “trước đây người ta cho rằng”;

- it has been reported: “đã thông báo trước”.

* Các mệnh đề và tập hợp từ:

- it is also shown: “mặt khác (ngoài ra) cho thấy”;

- it must also be borne in mind: “cũng cần lưu ý”;

- it will be seen presently, however: “tuy nhiên dưới đây sẽ cho thấy”;

- we gave already seen: “chúng ta đã thấy”;

- it had been previously observed: “trước đây đã cho thấy”.

* Các tập hợp từ đóng vai trò quán ngữ:

- as shown: “như đã thấy”;

- as already stated: “như đã chỉ ra”;

- as chapter V has indicated: “như đã thấy ở chương V”;

- as noted later, as will be noted later: “như sẽ thấy dưới đây”.

b) Các từ đặc trưng đặc trưng cho mức độ khách quan của thông tin

Các đơn vị ngôn ngữ biểu đạt mức độ khách quan của thông tin trong văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ được thể hiện bởi các từ và cụm từ tình thái như: cho rằng, nêu lên, khẳng định, có thể, có lẽ, có khả năng, dường như, chỉ ra, tất nhiên, không nghi ngờ, có nghĩa là, hiển nhiên, đương nhiên và v.v. Vai trò chức năng của các đơn vị ngôn ngữ này là đặc biệt to lớn, bởi vì không có chúng thì nội dung biểu đạt tương đối biến thành tuyệt đối. Về hình thức, các đơn vị này được biểu thị bằng các phương pháp khác nhau, phân biệt đáng kể phụ thuộc vào ngôn ngữ cụ thể. Trong tiếng Anh kĩ thuật chúng được thể hiện rộng rãi bằng các động từ đặc trưng và trạng từ đặc trưng của phong cách khoa học kĩ thuật và công nghệ.

Như vậy, với những đặc trưng về phong cách, ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ có thể được nghiên cứu trên nhiều bình diện khác nhau của các chuyên ngành kĩ thuật và công nghệ khác nhau. Là chỉ báo ngôn ngữ của cách mạng khoa học kĩ thuật, văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ phản ánh đầy đủ trình độ phát triển về ngôn ngữ trong lĩnh vực kĩ thuật và công nghệ của một xã hội nhất định và, qua ngôn ngữ, phản ánh trình độ phát triển của xã hội.

 Tài liệu tham khảo

1. UNESCO. Scientific and technical translating and other aspects of the language problem. The 2nd ed., Paris.

2. Flood W.E. The problem of vocabulary in the popularisation of science. Edinburgh – London.

3. Hook J.H. Hook’s guide to good writing. New York.

4. Кауфман С.И. (1980). Некоторые особенности стиля американской технической литературы. Москва.

5. Виноградов В.В. (1963). Стилистика. Москва.

6. Пумпянский А.Л. (1980). Структурные аспекты слова и словосочетания. Калинин.

Posted in Đối chiếu ngôn ngữ | Leave a Comment »

Проблема терминологии научно – технической литературы в изучении синтаксиса научного стиля речи (в русском и во вьетнамком языках) – 2

Posted by daothu09 on July 30, 2009

13 = Tieu luan 1 - 2001

Дао Хонг Тху

Dao Hong Thu

IV. Система значений научно – технической терминологии

Рассматривая вопрос о системе значений научно – технической терминологии, необходимо выяснить:

1. какое строение имеет система понятий, выявляемая в процессе  порядочения;

2. каковы соотношения этих двух понятий между собой и с понятием “система понятий теории, науки”.

1. Как известно, имеющиеся нечеткие значения естественно сложившихся терминологий не могут быть положены в основу упорядоченных терминологий, предназначенных для научного общения. Для этого должна быть специально разработана система уточненных и единственных значений, отвечающая самому современному уровню развития данной науки.

При работе по упорядочению вся совокупность научного знания рассматривается как система, элементами которой являются отдельные науки. Составляющие их понятия в свою очередь рассматриваются как система.

Фактически выявляют части системы, т.е. подсистемы или подподсистемы, но по традиции говорят о том, что выявляют в каждом случае самостоятельную систему понятий, например, в системе понятий физико-технических наук, выделяют категории и логические связи между понятиями.

В школе Д.С.Лотте каждое понятие системы рассматривается с точки зрения того, на базе каких понятий оно возникло, так как каждое из понятий в системе оказывается производным целой цепи понятий разных категорий.

Как известно, понятия по своему месту и значению не равнозначны. Есть понятия, которые относятся к фундаментальным для данной науки. Эти понятия отражают общие закономерности изучаемого данной наукой предмета и имеют отношение ко всем ее теориям. Другие понятия науки относятся только к отдельным ее теориям, поскольку отражают не общие закономерности ее предмета, а отдельные его стороны. моменты. Поэтому при работе по упорядочению не просто выявляются такие понятия и ближайшие связи между понятиями, но устанавливается и порядок возникновения из них других понятий. Например, понятиями в теории теплообмена могут быть теплообмен, теплоноситель, молекулярный перенос, теплопроводность, теплообмен излучением, тепловой поток и т.д.

Из этих понятий и ряда понятий, входящих в системы других, более общих наук выводятся более частные понятия теории теплообмена, например, теплопроводностью, теплообменом при испарении, кипении и конденсации, теплообменом излучением и т.п.

Каждое понятие системы в школе Д.С.Лотте рассматривается также в иерархии той категории, к которой оно принадлежит. Объем большинства научно – технических понятий внутри каждой категории, как уже отмечалось, может делиться по многим основаниям. И все понятия, входящие в любую параллельную классификацию, находят свое место в структуре соответствующей категории.

Таким образом, для строения системы научных понятий характерна не только определенная последовательность понятий, но и иерархические отношения между понятиями внутри каждой категории. Положение каждого понятия в плоскости категории фиксировано, во-первых, его связями внутри соответствующей категории и, во-вторых, его связями с понятиями других категорий. При этом понятия каждой категории имеют свои характерные типы связей с понятиями других категорий.

2. Для системы значений естественно сложившейся терминологии характерна и определенная последовательность значений, и иерархические отношения значений внутри определенных групп. Положение каждого значения в системе также фиксировано, во-первых, его связями с другими значениями внутри данной категории и. во-вторых, связями со значениями терминов других категорий.

Так как в качестве языковых научных значений терминов в естественно сложившихся терминологиях не выступают понятия полные (их значения устанавливаются одной, первой дефиницией), эта система выражает только систему конкретных понятий.

Система значений естественно сложившейся терминожпии и система понятий, выявляемая в процессе упорядочения естественно сложившейся терминологии, полностью не совпадают.

Не все члены выявленной системы понятий, те, которые могут иметь термины, имеют их в естественно сложившейся неупорядоченной терминологии. Многие из них существовали до упорядочения в форме описательных выражений или определений.

При работе по упорядочению терминологии, не производится выявление ранее существовавших систем значений – выявляются только самые современные, наиболее прогрессивные. Такое неполное совпадение между выявленной системой понятий и системой значений неупорядоченной, естественно сложившейся терминологии всегда будет существовать. Выявленные системы понятий обширнее по общему числу элементов, чем системы значений естественно сложившихся терминологий. 

В естественно сложившихся терминологиях существовало несколько вариантов одной наиболее устоявшейся системы значений – в упорядоченной терминологии разработана одна – единственная сетка значений, соответствующая самому современному состоянию науки в этой области.

Исследуя системы понятий теории, науки, систем значений естественно сложившихся терминологий и системы понятий, выявляемой в процессе упорядочения, можно сделать вывод о том, что необходимо различать две следующие группы систем:

1. систему понятий теории, науки, являющуюся объектом рассмотрения в соответствующей науке;

2. две языковые, хотя и не полностью совпадающие системы:

* систему понятий, выявляемую в процессе упорядочения терминологий,

* систему значений естественно сложившихся терминологий, которые могут быть предметом лингвистических исследований.

V. Проблема терминологии научно – технической литературы во вьетнамском языке

Развитие науки и техники XXI века во всем мире оказывает прямое влияние на развитие языка нашего парода, особенно в сфере научной терминологии. Многие люди сомневаются, что вьетнамский язык, до августовской революции считавшийся языком народа с низкой цивилизацией, может сейчас создавать целую систему научных терминов, систему одновременно богатую и тонкую, достаточную для передачи любого научного понятия, даже самого современного.

Однако, действительность – развитие всеобщего среднего и высшего образования, распространение научно – популярной литературы среди трудящихся масс, формирование научных кадров также вне сферы высшего образования, осуществление научных исследований в нашей стране на базе нашего языка как языка науки – полностью развеяла эти необоснованные сомнения.

В течение своего исторического развития вьетнамский язык обогатился так же, как и другие языки, иноязычными заимствованиями, которые брались в основном из китайского языка, являвшегося в прошлом языком высокой культуры. Но все перечисленные условия (единство языка, его длительное  развитие, заимствования из более богатого языка) являются лишь предпосылками к формированию вьетнамского литературного языка, в том числе и языка научно – технической литературы.

История научной терминологии во вьетнамском языке началась в первые десятилетия двадцатого века. Первые шаги были достаточно тяжелыми. Постепенно термины накапливались, и с тридцатых годов работа охватила область естественных и технических наук. Несколько научных журналов на вьетнамском языке и несколько научных французско-вьетнамских словарей уже изданы, но их количество, конечно, очень ограничено.

Таким образом, сразу же после революций мы смогли уже использовать свой язык в процессе обучения различных дисциплин. Но система научных терминов в эти годы была достаточна лишь для среднего образования. Для курсов лекций высшей школы профессора были вынуждены создавать самостоятельно необходимые термины, подобная работа продолжается с 1945г. до 60-х годов.

С точки зрения научной, выработанные термины не должны давать возможности для путаницы. Они должны быть по возможности однозначными в области одной определенной науки. Они должны отражать точно основное содержание научных понятий, которые они представляют; нужно, чтобы они обладали в достаточной степени систематическим характером. По нашему мнению, эти основные требовпштя диктуются специфическим характером научной терминологии.

Термины из иностранных языков обычно транслитерируются тогда,    когда это оказывается необходимым. Например, для названии химических элементов и соединений, для названий камней и минералов. Само собой разумеемся, что транслитерированные термины не могут сохранить во вьетнамском языке свою первоначальную форму, они должны быть более или менее изменены, чтобы соответствовать фонетической и графической системе нашего языка. Например, acide стало ахit, регmanganate – pecmanganat и т.п. Заимствуются термины из китайской терминологии, в этом случае также адекватные модификации вносятся в структуру заимствованных терминов, чтобы придать им соответствие с правилами словообразования и произношения вьетнамского языка.

Наконец, термины должны иметь народный характер, так как терминология должна служить повышению научного и технического уровня трудящихся масс. Поэтому создаваемые научные термины должны быть по возможности краткими и легкими для чтения, понимания п употребления.

К выработке научной терминологии на языковом материале вьетнамского языка возможно базироваться в первую очередь на фундаментальном различии двух видов элементов, существующих в нашем языке, а именно – элементов свободных и элементов несвободных.

Свободные элементы – это односложные образования, имеющие собственное значение и могущие образовывать сами по себе независимые слова. Сложные образования, в которых составные части являются свободными, могут быть независимыми словами. Свободные элементы могут быть чисто вьетнамского происхождения, китайского происхождения, австроазиатского, французского, несмотря на это этимологическое разнообразие, они ассимилировались во вьетнамском языке и стали общеупотребительными.

Несвободными считаются элементы, которые не могут образовывать сами но себе независимые слова. Некоторые из них не имеют никакою значения. Другие, хотя и имеют значение, не могут тем не менее употребляться независимо. Эта последняя категория несвободных элементов состоит почти исключительно из элементов китайского происхождения, введенных во вьетнамский язык, но еще недостаточно ассимилированных, чтобы стать свободными элементами. В отличие от элементов китайского происхождения, введенных в наш язык, но уже ставших свободными, эти несвободные элементы сохраняют еще несколько книжный характер и несут отпечаток иноязычных заимствований.

Свободные и несвободные элементы, обладающие значением, позволяют нам создавать серии слов, одновременно легких для понимания и составляющих систему. Такой способ словообразования очень характерен для вьетнамцев.

Ясно, что в выработке научной терминологии необходимо использовать и свободные, и несвободные элементы, имеющие значение. Предпочтительно, конечно, в любых условиях пользоваться свободными элементами, так как термины, образованные из них, легче понимаются. Но это не значит, что мы используем только свободные элементы, отбрасывая любой несвободный элемент, даже адекватный. С другой стороны, надо уметь использовать фундаментальное различие между свободными элементами и несвободными, имеющими вначение со следующих точек зрения:

1. С точки зрения семантической, несвободные элементы, имеющие значение, обычно абстрактны, в то время как свободные элементы более конкретны. Несвободные элементы, которые не могут существовать в языке как слона, а только как составные части слои, но могут представлять что-либо конкретное. Напротив, свободные элементы своим долгим существованием и свободным употреблением в речи приобрели уже высокую степень конкретизации и представляют вполне определенные предметы.

Это объясняет, почему большая часть абстрактных понятий обозначается во вьетнамском языке словами, в образовании которых участвует несвободный элемент, в то время как слова, обозначающие конкретные предметы и явления, образованы из свободных элементов.

Используя упомянутую противоположность между свободными и несвободными элементами, имеющими значение, мы действовали при создании терминологии следующим образом.

* Для всех конкретных понятий отдается предпочтение свободным элементам. Поэтому число вьетнамских терминов составляет большую часть словаря биологических, медицинских и агрономических наук. Такой способ образований кажется с первого взгляда очень простым, даже самоочевидным. В действительности же он является очень сложным и трудно выполнимым. Его сложность проистекает из того факта, что если автор не осознает четко преимущества свободных элементов перед несвободными для выражения конкретных понятий, то у него не будет смелости довести работу до конца. С другой стороны, его выполнение трудно потому, что здесь надо прежде всего суметь признать широкие возможности своего родного  языка,   побороть   комплекс   неполноценности,   который приводит к признанию бедности своего национального языка, неспособности его передавать точные понятия. Без этой уверенности очень легко склониться к заимствованиям из терминологии иностранного языки, в особенности на китайской, не давая труда поискать эквивалентное вьетнамское слово. А задача отыскать это слово оказывается совсем нелегкой; иногда после серьезных поисков и внимательною анализа существующих слов удается выбрать или создать слово, которое подходит.

* Что касается абстрактных понятий, мы используем обычно для передачи несвободные элементы, имеющие значение, которые сочетаем но правилам вьетнамской грамматики: создаваемые слова могут быть более или менее похожи на китайские термины и могут совершенно отличаться от них. Этот метод позволяет создавать серии научных терминов, одновременно точных и объединенных в систему.

2. Вторая противоположность с точки зрения семантической между свободными элементами и несвободными, имеющими значение, состоит в полисемантическом характере первых и моносемантпческом характере вторых.

Свободные элементы, существующие во многих различных контекстах, способны принимать различные значения (полисемичны), в то время как несвободные элементы, встречающиеся п ограниченном числе сочетаний, могут иметь лишь одно определенное значение (моносемччны).

Употребленные независимо, несвободные значимые элементы, имеющие значение, могут образовывать слова, которые имеют одно значение, причем абстрактное. Это, впрочем, явление частое по вьетнамском языке, где каждый элемент китайского происхождения, обычно несвободный, может быть употреблен в некоторых условиях как независимое слово.

3. С точки зрения строения слов, противоположность между свободными элементами и несвободными значимыми элементами состоит в степени целостности слова, образованного из них. Как известно, каждый научный термин должен обладать определенной степенью целостности. Рассматриваемые под этим углом зрения несвободные элементы имеют очевидное преимущественное значение перед свободными элементами. Поскольку они почти не могут существовать независимо, несвободные элементы, сочетаясь с другим элементом, в любых условиях контекста образуют слова с большой степенью целостности, которые можно назвать монолитными.

Сейчас используется и этот факт, чтобы образовать серии терминов, обладающих высокой степенью (единства) целостности, при помоши употребления несвободных элементов, имеющих значение в качестве аффиксов.

Литература

1. А.И.Моисеев. О языковой природе термина. М., 1970.

2. Е.Н.Толикина. Некоторые лингвистические проблемы изучения термина. М., 1970.

3. А.Г.Бесчастнов. Общая химия. Минск, “Выш. школа”, 1977.

4. Быстров И.С., Нгуен Тай Кан, Станкевич Н.В. Грамматика вьетнамского языка. ЛГУ, 1976.

5. В.С.Попов и С.А.Николаев. Общая электротехника с основами электроники. М., “Энергия”, 1976.

6.О.И.Москальская. Устойчивые cловосочетания серийного образования как объект грамматики. ВЯ, 1972, ном.4.

7. Ле Кха Ке и Нгуен Ким Тхан. О выработке научной терминологии во вьетнамском языке. М., Вьетнамский лингвистический сборник, 1976.

8.   Chuẩn hóa chính tả và thuật ngữ. Nxb. Giáo dục, Hà Nội, 1993.

9. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ. Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1981.

10. Hoàng Trọng Phiến. Ngữ pháp tiếng Việt – Câu. Nxb. ĐH & THCN, Hà Nội, 1980.

Posted in Đối chiếu ngôn ngữ | Leave a Comment »

Phân tích cấu trúc câu trong văn phong khoa học – kĩ thuật

Posted by daothu09 on July 25, 2009

8 = 04-20008 = 04-2000 (1)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đào Hồng Thu

Đại học Bách Khoa Hà Nội

Tiếng Anh nói chung và tiếng Anh văn phong khoa học kĩ thuật nói riêng, như chúng ta đã biết, chủ yếu chứa các thành phần phân tích. Người học tiếng Anh thường gặp khó khăn trong việc phân tích cú pháp là điều dễ hiểu khi dịch thuật, nói cách khác, khó phân tích cấu trúc câu là đặc điểm của tiếng Anh so với các ngôn ngữ khác. Trước hết, điều này liên quan tới sự phân định nghĩa của câu, tức là xác định giới hạn các thành phần trong câu, phân chia các nhóm chủ ngữ, vị ngữ, định ngữ, trạng ngữ. Để xác định được giới hạn các thành phần trong câu, cần phải nắm vững các yếu tố tạo nên câu như mạo từ, đại từ, giới từ, liên từ, trợ động từ, một số trạng từ và số từ, bởi vì chính các từ loại này thường có trong phạm vi các yếu tố riêng biệt hoặc thành ngữ, cụm từ, giúp thiết lập mối quan hệ giữa các từ của câu, ví dụ:

The power output of our hydroelectric stations is increasing from day to day.

Đây là loại câu đơn mở rộng. Chúng ta có thể chia câu trên thành 4 đoạn theo mối quan hệ ngữ pháp:

1. the power output

2. of our hydroelectric stations

3. is increasing

4. from day to day

Chủ ngữ trong câu trên được bắt đầu từ mạo từ the, trợ động từ is đóng vai trò đồng vị ngữ với increasing, giới từ from với cụm từ day to day đóng vai trò trạng ngữ trong câu. Giới từ of trong thành phần chủ ngữ sau danh từ output thuộc phần xác định phía phải. Giới từ to nằm trong cụm từ from day to day và là trạng ngữ trong câu. Từng cụm từ chúng ta có thể dịch như sau:

1. việc sản xuất điện năng

2. của các nhà máy thủy điện (tại các nhà máy thủy điện của chúng ta)

3. đang phát triển

4. hàng ngày

5. hoặc 3 & 4 (đang ngày càng phát triển)

Khi phân tích câu phức độc lập và phụ thuộc, cần biết trật tự các thành phần câu trong tiếng Anh và các yếu tố ngôn ngữ. Trước hết, cần tách nhỏ các câu phức độc lập thành các câu đơn, câu phức phụ thuộc, các mện đề chính – phụ, sau đó chúng ta tiến hành phân tích từng thành phần và toàn bộ câu trong quá trình dạy và học dịch thuật.

Phân tích ngữ pháp một câu trong tiếng Anh thường bắt đầu từ việc xác định thành phần chính là chủ ngữ và vị ngữ. Trong quá trình giảng dạy  ngoại ngữ thuộc khối khoa học tự nhiên chúng tôi thấy rằng nên bắt đầu từ việc tìm vị ngữ của câu, bởi vì:

1. Việc tìm được vị ngữ (yếu tố II) trong câu sẽ lập tức xác định ngay được hai yếu tố khác (yếu tố I – phía bên trái vị ngữ và các yếu tố III, IV (nếu có) – phía bên phải vị ngữ);

2. Câu trong tiếng Anh, về nguyên tắc, luôn chứa động từ (vị ngữ), trong khi có thể không chứa chủ ngữ, ví dụ, khi câu ở dạng mệnh lệnh thức;

3. Thông thường, tìm vị ngữ dễ dàng hơn chủ ngữ, bởi vì trong đa số các trường hợp, vị ngữ được xác định bởi trợ động từ hoặc động từ tình thái là thành phần không thể thiếu được trong câu.

Quá trình giảng dạy  ngoại ngữ theo văn phong khoa học kĩ thuật cho thấy việc xác định vị ngữ để phân tích câu nhằm đáp ứng việc dịch môn chuyên ngành khoa học cụ thể của sinh viên là vấn đề then chốt để nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ thuộc khối khoa học tự nhiên. Theo chúng tôi, có thể áp dụng một số phương pháp tìm vị ngữ sau:

1. Phương pháp tìm vị ngữ phổ biến và đơn giản nhất là xác định vị ngữ theo trợ động từ hoặc động từ tình thái (be, am, is, are, was, were;  have, has, had; do, does, did; shall, shout; will, would; can, could; may, must), ví dụ:

The experiment has been made under new conditions.

One of the most important uses of electricity is the production of heat.

All the above factors should be taken into consideration.

2. Nếu trong thành phần của vị ngữ không có các thành phần của động từ như đã nêu trên thì chúng ta có thể tìm được vị ngữ bằng cách xác định vị ngữ theo từ phía bên trái, cụ thể là:

a. Theo đại từ nhân xưng ở dạng nguyên mẫu (I, he, she, we, they), nghĩa là ngay sau chủ ngữ là vị ngữ, ví dụ:

In order to study different properties of materials we subject them to a thorough test.

Để nghiên cứu các tính chất khác nhau của vật liệu, chúng ta cẩn thận thử nghiệm chúng.

b. Theo các trạng ngữ chỉ thời gian đứng trước động từ (always, never, often, seldom, just, already, usually …), ví dụ:

Very fine grained materials usually form smooth surfaces.

Các vật liệu có cấu tạo hạt rất nhỏ thường tạo ra bề mặt phẳng.

3. Phương pháp tìm vị ngữ thứ ba là xác định chúng qua từ đồng hành phía bên phải là phó từ trực tiếp thường đứng ngay sau vị ngữ.

Phân tích cấu trúc câu qua xác định chức năng của từ đòi hỏi:

a. Kiến thức về tiếp tố, theo đó có thể xác định được từ cần xác định thuộc loại từ nào, ví dụ:

Danh từ: production, development, possibility, conductance …

Tính từ: considerable, useful, productive …

Động từ: realize, clssify, introduce …

Trạng từ: freely, possibly, likewise …

b. Kiến thức về vĩ tố (-s, -ed, -ing, -er, -est);

c. Kiến thức về các thành phần khác tạo câu như mạo từ, đại từ chỉ định (this, that, these, those), tính từ sở hữu (my, his, her, its, our, your, their), từ không xác định (some, any), phủ định (no), tính từ chỉ định lượng (many, much, few, little), số từ.

Tài liệu tham khảo

1. Alice Oshima. Introduction to Academic Writing.

2. Roderick A.Jacobs. English Syntax.

3. E.M.Gordon. Modality in Modern English.

4. A Theoretical English Grammar.

5. Nguyễn Xuân Phú. Tiếng Anh cho chuyên viên khoa học kĩ thuật.

Posted in Đối chiếu ngôn ngữ | Leave a Comment »

Выражение причинно – следственных отношений простого предложения научного стиля в русском, вьетнамском и английском языках

Posted by daothu09 on July 23, 2009

6 = 09-19986 = 09-1998 (1)6 = 09-1998 (2)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

МФН Дао Хонг Тху

Ханойский Политехнический Институт

Вопрос о причинно – следственных отношениях простого   предложения научного стиля является одной из проблем затруднений у студентов технических вузов в процессе обучения русскому языку как иностранному.

Стилостатистичеекий анализ показал, что наряду с  предпочтительности в использовании морфологических категорий есть немало синтаксических   явлений, которые типичны именно для стиля научной речи. Здесь максимально распространены:

- неопределенно – личные предложения со сказуемым в форме 3-го лица множественного числа настоящею (84%), реже – будущею времени (9%) или множественного числа прошедшего времени (7%), например:

Различают двя вида физических величин – скалярных и векторных, существенно отличающихся друг от друга;

- обобщенно-личные предложения, организуемые при помощи глаголов в форме первого лица множественного числа настоящего (41%) или будущего (59%), например:

Возьмем из пористой необожженной глины сосуд А.

Причинно-следственные отношения – одна из важнейших категорий, отразившаяся в языке. Рассматривая лингвистический аспект причинности как отражение средствами языка физического и философского аспектов этой катеюрии, мы действительно увидим важность этой оппозиции для описания интересующих нас явлений. Каждое значение категории именной причинности реализуется в некотором неопозитивном множестве типовых ситуаций.

Причинно-следственные отношения (как результат сознательного установления их говорящим) могуг быть выражены:

1. именными словоформами, например:

 Из-за нагревания воды образуются пары.

2. причинной глагольной связкой, например:

Сильное нагревание воды вызвало быстрое образование пара; Образование пара было вызвано нагреванием воды.

3. словами причина и следствие - показателями смысловых отношений :

Нагревание воды – причина образования пара;

Образование пара - следствие нагревания воды.

Причинно-следственные конструкции, представляющие собой единство форм имени со значением причины и следственного блока, на синтаксическом уровне не всегда представлены самостоятельным предложением. Они могут входить в другое предложение как его часть. Следствие может быть выражено разными частями речи и разными членами предложения. Формы имени со значением причины всегда связаны с главным словом следственного блока смысловой связью, определяющей синтаксическую позицию форм имени со значением причины в структуре предложения относительно имени следствия.

Распространенным способом передачи категории причинности в языке науки являются простые предложения, отличающиеся разнообразием семантических типов. Широко используются предложения с производными причинными предлогами.

По нашим наблюдениям, наиболее частотны и научном стиле простые предложения с производными предлогами: в результате, вследствие, в зависимости, в силу, в связи, под действием, благодаря. Малоупотребительны в языке науки иредлогр: ввиду, по причине, по случаю, во имя, в честь.

Разным подъязыкам научного стиля свойственны существительные, выражающие различные значения. Отглагольные существительные разных семантических групп под влиянием предиката могут утрачивать значение процессуальности, длительности и приобретать значение результативности, например:

Закон всемирною тяготения был открыт великим английским ученым Ньютоном в результате изучения движения Луны вокруг Земли и планет вокруг Солнца.

Простые   предложения,   содержащие   предлоги   в результате  и   вследствие, имеющие   в   качестве   стержневого   компонента   отглагольное   существительное и выражающие причину процессов изменения и возникновения, характеризуются близостью передаваемых значений, недифференцированностью употребления , например:

Сразу после включения тока температура поднимается очень быстро не столько вследствие ухода небольшой части тока в окружающую среду а скорее в результате нагревания проводя большей частью тепла.

Учет родного языка является одним из важнейших принципов обучения иностранному языку. Реализация этого принципа предполагает анализ, во-первых, интерферирующего влияния синтаксической системы родного языка, как более сильной, более развитой и прочно укоренившейся в сознании и умении использования, на вновь формируемую синтаксическую систему иностранного языка и, во-вторых, переноса сходных синтаксических особенностей, речевых навыков и умений, способствующего успешному овладению иностранным языком.

Языковая интерференция чаще всего проявляется в значениях внешней причины различных типов научно-технических высказываний. Эквиваленты во вьетнамском языке здесь выражаются разными видами. Здесь обычно после эквивалент-предлога стоит так называемое Нгуен Тай Каным слово “danh ngữ” но в болшимстве случаев только с его центральной частью, например:

Vận tốc bay bị giảm xuống do sức cản của không khí.

Из-за сопротивления воздуха скорость во время полета убывает.

Внешняя причина может быть:

1. специфической характеристикой объекта действия, которая преобладает значение недействия. В этом явно выражается значение недостигнутой пели. Объект действия в данной ситуации рассматривается довольно широко. В русском языке причина представлена существительными и прилагательными, определяющими объект, со значением:

- параметров, например:

            Do khí agon có tính trơ hóa học nên không thể xác định được nguyên tử lượng của nó.

Невозможно представить определение атомного веса аргона обычным путем вследствие его химической инертности.

- качества, например:

                Trong phép đo trên thực tế, sai sót có thể xảy ra do chưa hoàn thiện phạm vi sử dụng.

В практических измерениях ошибки могут происходить из-за несовершенства использованных масштабов.

Эквиваленты могут проявляться п двух типичных видах.

- нестабильности, например:

         Thông thường, cơ năng biến thành nhiệt năng do tác dụng của lực ma sát.

         Обычно механическая энергия переходит в тепловую вследствие действия силы трения.

- сходства/различия, например:

         Các nguyên tử của nguyên tố đã cho có thể có khối lượng khác nhau do khác nhau về số nơtron.

Атомы данного элемента могут иметь разный вес вследствие различия их по числу нейтронов.

2. Состояние дел: Причина – состояние социальной среды – выражается именами и дескрипциями со значением:

- обобщенного представления ситуации (обстоятельства, стечение обстоятельств, ряд обстоятельств, условия, ситуация, обстановка и т.п.), например:

         Do nhiệt đ quá cao nên áp suất của plazma sẽ thay đổi hàng chục atmophe.

         Из-за громадной температуры давление плазмы будет измеряться десятками атмосфер.

- качественной характеристики ситуации, например:

         Do va đập nên các điện tử có thêm năng lượng.

         От ударов электроны приобретают дополнительную энергию.

3. Состояние фичической среды:

Đạn pháo lệch hướng bay tới vài km do sức cản của không khí.

Из-за   сопротивления  воздуха   артиллерийские   снаряды   теряют десятки километров дальности полета.

Кроме внешней причины, в изучении научно – технической литературы и на русском и на вьетнамском языках выделены подгруппы со значением причинности, на которые должно быть обращено внимание аудитории в процессе обучения языку как иностранному. Таковыми подгруппами могут быть:

- значение длительности, например:

Do giãn nở nhiệt đ bình thường nên hêli không nguội đi mà nở ra.

В результате расширения при обычных температурах гелий не охлаждается, а нагревается.

- значение взаимного действия, например:

         Trong tự nhiên luôn có sự tạo thành khí CO2 do diễn ra các quá trình cháy.

В природе углекислый газ постоянно образуется вследствие процессов горения, дыхания и брожения.

-  дистрибутивное значение, например:

            Sóng tia cực ngắn có thể thu nhận được chủ yếu chỉ trong giới hạn tầm nhìn thẳng vì các bước sóng truyền gần như theo một đường thẳng.

Прием ультракоротких волн в основном возможен лишь в пределах прямой видимости вследствие их почти прямо-линейного распространения .

- значение результативности, например:

            Do nhiệt đ cao nên các hạt nhân nguyên tử bên trong vùng mặt trời và các ngôi sao chuyển động với tốc đ lớn.

Вследствие высоких температур атомные ядра во внутренних областях Солнца и звезд двигаются с большими скоростями.

- значение завершения, например:

         Nguồn năng lượng lớn của các vì sao được tạo thành do sự biến đổi của hydro thành heli.

         Громадная энергия звезд образуется вследствие преобразования водорода в гелий.

- значение возникновения, например:

         Do các tia sáng mặt trời hấp thụ các phần bề mặt trái đất khác nhau một cách không đồng đều nên đã phát sinh ra gió.

Ветры возникают вследствие неодинакового поглощения солнечных лучей различными участками  земной поверхности.

В отличие от русского языка, в котором преобладают синтетические элементы, т.е. в котором отношения между отдельными словами выражены флексиями, в английском языке преобладают элементы аналитические. Отношения между словами в нем определяются порядком слов в предложении и строевыми элементами.

Особенности английского языка (преобладание в нем аналитических элементов) обусловливают трудности синтаксического анализа. Эго прежде всего относится к смысловому членению предложений, т.е. к определению границ элементов в предложении, выделению групп подлежащею, сказуемого, дополнения, обстоятельственных слов. Дня этого необходимо знание строевых элементов: артиклей, местоимений, предлогов, союзов и вспомогательных глаголов, а также некоторых наречий и числительных, так как именно они обычно стоят на границах отдельных элементов и звеньев в предложении помогают установить связи между отдельными словами предложения, например:

The power output of our hydroelectric stations is increasing from day to day because of the improvement of working conditions.

Производительность нашей гидроэле-ктростанции быстро повышается за улучшение условий работы.

В английском языке причинно – следственные отношения обычно выражаются в сочетании с предлогами: for, because of, since, as, etc., например:

The motor is overheated because of dirt in the air gap.

The motor is overheated since dirt in the air gap.

Двигатель перегревается из-за грязи в воздушной щели.

Причинно – следственные отношения могут быть выражены и в формах:

- группы существительных, например:

            Insulation breakdown leads to short circuit.

         Изоляционный пробой приводит к короткому замыканию.

- сочетания с сап и тау, когда одна причина вызывает ряд следствий, или наоборот, одно следствие вызвано радом причин, например:

         Sparking may be caused by worn brushes.

         Worn brushes are one cause of sparking.

- цепочки причинно-следственных отношений:

         Overrunning a motor leads to excessive heat which can cause insulation breakdown.

         This may be due to excessive heat caused by overrunning the motor.

         – придаточных:

            The piston travels up the cylinder compressing the mixture.

- сочетаний с allowning, permitting, letting:

            The switch is closed allowing current to flow through the transformer primary.

            The switch is closed permitting current to flow through the transformer primary.

            The switch is closed letting current to flow through the transformer primary.

 Список использованной литературы

1. Академия наук СССР. Русская грамматика. Том II. Москва, изд.»Наука», 1980.

2. Аросева Т.Е., Рогояя Л.Г., Сафьянова Н.Ф. Пособие по научному стилю речи. Москва, “Высшая школа”, 1986.

3. Валгипа Н.С. Синтаксис современного русского языка. Москва, “Высшая школа”, 1978.

4. Голкова В.Я. Предложное обстоятельство причины в современном английском языке, Ярославль, 1971.

5. Грамматика современного русского литературного языка. Под ред. Н.Ю.Шведовой, Москва, 1970.

6. Грязнухнна Т.А. Анализ предложных связей в научном тексте. Киев, 1985.

7. Историческая грамматика русскою языка. Синтаксис. Москва, “Наука”, 1978.

8. Мотина Е.И. Язык и специальность. Москва,1988.

9. Синявская Е.В., Зеленецкая С.М. Учебник английского языка для технических вузов. Москва, “Высшая школа”, 1976.

10. David Bonami. English for technical students. Longman.

11. Roderick A.Jacobs. English syntax. Oxford University Press.

12. Đỗ Hữu Châu – Bùi Minh Toán. Đại cương ngôn ngữ học (tập hai). Nxb.Giáo dục, 1993.

13. Nguyễn Văn Chiến. Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn ngữ Đông Nam Á. Hà Nội, ĐHSP Ngoại ngữ Hà Nội, 1992.

14. Quang Hùng. Tiếng Anh căn bản khoa học kĩ thuật. Nxb.Đồng Nai.

15. P.Charles Brown, Norma D.Mullen. English for computer science. Oxford University Press.

16. Erich, Glendinning. English in Electrical Engineering and Electronic. Oxford University Press.

Posted in Đối chiếu ngôn ngữ | Leave a Comment »