ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

NGHIÊN CỨU LẬP CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TIẾNG VIỆT KĨ THUẬT DÀNH CHO SINH VIÊN KHỐI KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ (1)

Posted by daothu09 on July 26, 2009

 

9 = NCKH 2000 (2)

Chủ nhiệm đề tài: Đào Hồng Thu

A – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

         I. Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ngôn ngữ – phương tiện giao tiếp và tư duy quan trọng nhất của loài  người –  luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ của các tiến trình phát triển của xã hội.

Tiếng Việt – ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam – không nằm ngoài phạm vi các qui luật trên. Đã có rất nhiều bài báo, các công trình nghiên cứu về tầm quan trọng, chức năng và sự phát triển của tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, đặc biệt là trong văn học và nghệ thuật. Trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX đã có những bài báo đề cập đến chức năng và tầm quan trọng của nó như “Tiếng Việt trong khoa học cơ bản” (Ngụy Như Kontum), “Xây dựng thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt” (Lê Khả Kế), “Dùng tiếng Việt trong các ngành khoa học kĩ thuật ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội” (Phạm Đồng Điện) …

Các công trình nghiên cứu cho thấy ngôn ngữ dân tộc phản ánh rất rõ nét tiến trình phát triển xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Với một nền khoa học và kĩ thuật non trẻ thời ban đầu những năm 60 thế kỉ XX, tiếng Việt trong khoa học kĩ thuật được nghiên cứu và sử dụng mới chỉ ở dạng các thuật ngữ chuyên ngành với một số từ điển thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật.

Tiếng Việt thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ chỉ bắt đầu phát triển khi đất nước vào giai đoạn mở cửa và thực sự phát triển khi Việt Nam tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, các vấn đề về ngôn ngữ thuộc phạm vi khoa học và công nghệ được đề cập còn chưa nhiều. Mặc dù việc định hướng cho giáo dục ngôn ngữ thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ còn chưa rõ nét, song cũng đã có những báo cáo khoa học làm tiền đề cho một giải pháp. Đáng lưu ý là tuyển tập chuyên đề “Ngôn ngữ trong xã hội công nghiệp hóa” do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 1996.

II. Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Tiếng Việt ngày càng có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Cho đến nay, đã có rất nhiều nước trên thế giới có cơ sở nghiên cứu giảng dạy tiếng Việt. Ở một số nước như Pháp, Mĩ, Úc, tiếng Việt còn được khuyến khích dạy ở các trường phổ thông. Một số từ điển song ngữ đã được xuất bản ở Nhật, Trung Quốc, Nga, Pháp, Mĩ, Cuba.

Một vấn đề hiển thực là môn tiếng Việt có chỗ đứng rất sớm ở một số nước. Ngay từ năm 1949, bộ môn tiếng Việt đã xuất hiện ở khoa Đông Phương, Đại học Bắc Kinh. Ở Pháp, Bộ Giáo dục vẫn tiếp tục công nhận tiếng Việt là một trong những ngoại ngữ mà học sinh có thể chọn ở bậc phổ thông … Ở Trung Quốc, tiếng Việt được dạy và được nghiên cứu ở nhiều trường đại học và viện nghiên cứu, không chỉ tập trung ở Bắc Kinh mà còn ở nhiều tỉnh, nhất là các tỉnh phía Nam. Ở Nhật Bản, học tiếng Việt đang là thời thượng. Hàn Quốc đã dạy tiếng Việt từ 30 – 40 năm nay. Ở Liên Xô, tiếng Việt đã được bắt đầu dạy như một ngoại ngữ từ những năm 50 thế kỉ XX.

GS.Serge Genest (Đại học Tổng hợp Laval – Canada) đã nhận xét: “Những thay đổi quan trọng đang diễn ra ở Việt Nam khiến cho ngày càng có nhiều người muốn tiếp xúc với đất nước này. Dù là vì những mục đích trao đổi văn hóa hay kinh tế thì những mối quan hệ muốn phát triển với những thành viên của một nền văn hóa khác khiến ta có một sự hiểu biết, dù là hạn chế về ngôn ngữ của dân chúng nước này.” (Avant – Propos, Parlons Vietnamien Gérac, Université Laval 1995).

Như vậy, trên bình diện chung, tiếng Việt đã và đang được nghiên cứu, giảng dạy ở phạm vi ngày càng phát triển cả trong và ngoài nước.

B – MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

– Dẫn nhập các khái niệm “ngôn ngữ kĩ thuật” và “tiếng Việt kĩ thuật”;

– Tổng quan vấn đề nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ kĩ thuật, tiếng Việt kĩ thuật trong giai đoạn từ 1965 đến nay;

– Nghiên cứu tầm quan trọng của tiếng Việt kĩ thuật trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

– Dự đoán vai trò của tiếng Việt kĩ thuật ở thế kỉ XXI;

– Lược khảo các sách giáo khoa tiếng Việt và tập làm văn phổ thông hiện nay;

Lược khảo một số sách giáo khoa tiếng Việt thực hành cơ bản đang được sử dụng đ giảng dạy trường Đại học KHXH&NV và các trường Đại học Ngoại ngữ.

Nghiên cứu thực trạng sử dụng tiếng Việt trong trường Đại học Kĩ thuật và Công nghệ như ĐHBK Hà Nội và tính cấp bách của chương trình tiếng Việt kĩ thuật dành cho sinh viên khối khoa học kĩ thuật và công nghệ.

– Lập chương trình môn học tiếng Việt kĩ thuật dành cho sinh viên khối khoa học kĩ thuật và công nghệ (2 đơn vị học trình).

C – TÓM TẲT NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

I. Dẫn nhập các khái niệm ngôn ngữ kĩ thuật và tiếng Việt kĩ thuật

Trong khuôn khổ đề tài và để sử dụng rộng rãi các thuật ngữ khoa học theo góc độ ngôn ngữ học, tác giả sử dụng hai thuật ngữ trên để chỉ ngôn ngữ và tiếng Việt được nghiên cứu, sử dụng chỉ trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ.

1) Vấn đề ngôn ngữ và tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ chủ yếu do các nhà lãnh đạo hoặc quản lí khối ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đề cập tới. Trong những năm 60 thế kỉ XX, các nhà khoa học thuộc khối khoa học và kĩ thuật đã sử dụng thuật ngữ “tiếng Việt trong khoa học cơ bản” (Ngụy Như Kontum), “tiếng Việt trong các ngành khoa học kĩ thuật” (Phạm Đồng Điện), “thuật ngữ khoa học kĩ thuật bằng tiếng Việt” (Lê Khả Kế). Trong tuyển tập “Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam” (Nxb. ĐH&THCN, Hà Nội, 1981), tác giả bài “Lược thuật Hội nghị Ngôn ngữ học trong các trường đại học” Nguyễn Khắc Thi đã sử dụng thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học kĩ thuật” trong bài báo “Tiếp nhận và Việt hóa từ ngữ tiếng nước ngoài” (trích trong “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ”, nxb. KHXH, Hà Nội, 1994).

2) Trong tất cả các loại từ điển tiếng Việt cho đến năm 2000 chưa có định nghĩa cho thuật ngữ “ngôn ngữ kĩ thuật”, “tiếng Việt kĩ thuật”, mặc dù đã có định nghĩa cho ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh …

Để dẫn nhập các khái niệm “ngôn ngữ kĩ thuật” và “tiếng Việt kĩ thuật” có hiệu quả, cần xuất phát từ các định nghĩa về ngôn ngữ và tiếng Việt một cách khái quát. Ở đây, tác giả trình bày cụ thể các định nghĩa trong ba loại từ điển điển hình tại các thời kì phát triển xã hội khác nhau:

a) Từ điển Việt Nam phổ thông, Đào Văn Tập, nhà sách Vĩnh Bảo – Sài Gòn, 1951

Ngôn ngữ: Nói năng (khoa Ngôn ngữ)

Tiếng: – Âm thanh phát ra (tiếng động, tiếng đàn)

           – Ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga)

           – Lời phê bình của công chúng (tiếng hay, tiếng xấu)

b) Từ điển tiếng Việt, Văn Tân (chủ biên), nxb.KHXH, Hà Nội, 1991

Ngôn ngữ:

– Công cụ biểu thị ý nghĩ dùng để giao tiếp giữa người và người, thực hiện nhờ hệ thống những phương tiện âm thanh, từ ngữ và ngữ pháp. (Người là giống duy nhất có ngôn ngữ)

– Cách sử dụng chức năng nói trên, thường biểu hiện của phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa …. (Phải luôn chú ý đến ngôn ngữ cử chỉ)

c) Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), nxb.KHXH, Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 2000

Ngôn ngữ:

– Hệ thống những âm, những từ và những qui tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau. (Tiếng Nga và tiếng Việt là hai ngôn ngữ rất khác nhau.)

– Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo. (Ngôn ngữ điện ảnh. Ngôn ngữ hội họa. Ngôn ngữ của loài ong)

– Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng. (Ngôn ngữ Nguyễn Du. Ngôn ngữ trẻ con. Ngôn ngữ báo chí)

Tiếng:

– Cái mà tai có thể nghe được (Tiếng đàn. Tiếng cười)  

– Âm tiết trong tiếng Việt, về mặt đơn vị thường có nghĩa, dùng trong chuỗi lời nói (Tiếng được tiếng mất. Thơ lục bát gồm 14 tiếng.)

– Ngôn ngữ cụ thể nào đó (Tiếng Việt. Biết nhiều thứ tiếng)

– Giọng nói riêng của một người hay cách phát âm riêng của một vùng nào đó (Tiếng trầm trầm. Tiếng miền Nam.)

– Lời nói của một cá nhân nào đó (Có tiếng người)  

– Lời bàn tán, khen chê, sự đánh giá trong dư luận xã hội (Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Bưởi ngon có tiếng.)

3) Trên cơ sở các mục đã trình bày trên, chúng ta có thể đưa ra các khái niệm sau:

Ngôn ngữ kĩ thuật:

– Hệ thống các âm, các từ và các qui tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng và cùng một lĩnh vực hoạt động khoa học kĩ thuật và công nghệ dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau. (Tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ là ngôn ngữ kĩ thuật)

– Hệ thống kí hiệu dùng làm phưong tiện để diễn đạt, thông báo (Ngôn ngữ hình học. Ngôn ngữ toán.)

         Tiếng Việt kĩ thuật:

Ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam được sử dụng trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ (Tiếng Việt kĩ thuật thực hành)

II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ kĩ thuật, tiếng Việt kĩ thuật trong giai đoạn từ 1965 đến nay

         – Từ 1965 đến 1975:

         Đối với ĐHBK Hà Nội, ngay từ khi thành lập trường, việc dùng tiếng Việt để giảng dạy là đương nhiên. Tuy nhiên, khó khăn là ở chỗ cơ sở của một hệ thống thuật ngữ bằng tiếng Việt gần như không có. Với một nền kĩ thuật còn lạc hậu, các thuật ngữ kĩ thuật ít về số lượng, thiếu khoa học về chất lượng. Phần lớn thuật ngữ kĩ thuật là từ Hán – Việt, thiếu tính chất Việt Nam hoặc là từ tiếng Việt nhưng thiếu độ chính xác về khoa học.

         Bắt đầu từ năm 1965, trong hoàn cảnh chiến tranh chống Mĩ cứu nước, Đảng và Chính phủ đã chủ trương chuyển hướng giáo dục, quyết tâm nâng cao chất lượng giảng dạy, làm cho lí luận đi đôi với thực hành, giáo dục sát với thực tế chiến đấu và sản xuất.

         Để thực hiện chủ trương đúng đắn trên và để là cơ sở truyền thụ kiến thức về kĩ thuật, cán bộ giảng dạy các bộ môn kĩ thuật đã làm việc hết sức trách nhiệm để xây dựng được một hệ thống thuật ngữ kĩ thuật cơ bản bằng cách dựa vào bản chất từng hiện tượng, tính chất, nguyên tắc và công dụng từng thiết bị để lựa chọn từng thuật ngữ cho phù hợp.

         Có thể nói rằng trong giai đoạn này, cán bộ khối khoa học kĩ thuật đã rất thành công trong việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ khoa học kĩ thuật bằng tiếng Việt ở mức độ Danh từ kĩ thuật. Đây là một bước ngoặt lớn trong sự phát triển xã hội của Việt Nam.

– Từ 1976 đến 1990:

Đây là giai đoạn đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất. Ở giai đoạn này, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên con đường phát triển được đặt lên hàng đầu trong lĩnh vực ngôn ngữ. Biện pháp chủ yếu là tiếng Việt phải được chuẩn hóa để phục vụ có hiệu quả cho ba cuộc cách mạng và các nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong thời kì tái thiết. Các hội nghị khoa học về ngôn ngữ đã được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt, vấn đề chuẩn hóa và thống nhất hệ thống thuật ngữ khoa học kĩ thuật được đặc biệt chú ý. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ thị: “Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và làm cho tiếng Việt ngày càng phát triển, có khả năng thích nghi với sự phát triển của thời đại, đặc biệt là sự phát triển của khoa học và kĩ thuật” (Phạm Văn Đồng, 1969).

Trong giai đoạn phát triển này, vấn đề nóng bỏng được đặt ra trên phạm vi cả nước là xây dựng, thống nhất và chuẩn hóa hệ thống ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và liên quan là vấn đề mượn từ và âm của các ngôn ngữ khác, trong đó có vấn đề phiên chuyển từ ngữ khoa học nước ngoài.

– Từ 1991 đến nay:

Đây là thời kì mở cửa của Việt Nam theo Nghị quyết TW2 của Đảng. Tiếp theo là công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, ngôn ngữ dân tộc bước vào giai đoạn mới. Tiếng Việt kĩ thuật không còn dừng lại ở các thuật ngữ riêng biệt mà đã có nhiều văn bản dưới dạng bài dịch từ tiếng Anh, các báo cáo khoa học chuyên ngành. Tuy nhiên, cần phải nói rằng cách hành văn theo phong cách khoa học kĩ thuật và công nghệ của sinh viên, học viên và không ngoại trừ của một số bộ phận cán bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ còn chưa khoa học, chưa trong sáng. Nhiều thuật ngữ khoa học kĩ thuật được sử dụng một cách tùy tiện, không theo chuẩn mực nhất định. Các hội nghị về ngôn ngữ ở giai đoạn này được tổ chức khá phong phú về hình thức và nội dung, song chưa có những nghiên cứu đầy đủ về ngôn ngữ kĩ thuật và tiếng Việt kĩ thuật, chưa có giải pháp cho giáo dục ngôn ngữ kĩ thuật và tiếng Việt kĩ thuật trong trường phổ thông và đại học.  

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: