ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

NGHIÊN CỨU LẬP CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TIẾNG VIỆT KĨ THUẬT DÀNH CHO SINH VIÊN KHỐI KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ (2)

Posted by daothu09 on July 26, 2009

9 = NCKH 2000 (2)

Chủ nhiệm đề tài: Đào Hồng Thu

IIITầm quan trọng của tiếng Việt kĩ thuật trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Các luận điểm về mối quan hệ giữa xã hội và ngôn ngữ cho thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ nói chung, của ngôn ngữ kĩ thuật nói riêng. Với các điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể, ở mỗi quốc gia và mỗi khu vực, trong những giai đoạn phát triển khác nhau, ngôn ngữ có vai trò phát triển cũng rất khác nhau. Ở Việt Nam, trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, ngôn ngữ kĩ thuật mà cụ thể là tiếng Việt kĩ thuật đã tạo nên một bức tranh hết sức phong phú và phức tạp. Có thể nói rằng một khối lượng “ngữ liệu mới” và những phát triển mới đang nảy sinh hàng ngày trước sự tác động của sự phát triển trong xã hội hiện đại. Theo các tác giả của cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992 thì trong vòng 5 năm, tính từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế thị trường, đã xuất hiện trên 2000 đơn vị từ mới, phần nhiều có nguồn gốc vay mượn từ các tiếng nước ngoài. Theo nghiên cứu của chúng tôi, khoảng 70% đơn vị từ mới là các thuật ngữ kĩ thuật và công nghệ. Cho đến nay, lượng đơn vị từ mới là các thuật ngữ kĩ thuật và công nghệ gia tăng một cách đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Ở đây, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng. Sự phát triển của xã hội công nghiệp hóa đòi hỏi phát triển chức năng của ngôn ngữ dân tộc và cần tạo ra một sự đồng dạng trong hệ thống giao tiếp của các quốc gia có liên quan, tức là sự tiêu chuẩn hóa trên cơ sở có một thái độ chặt chẽ trong việc lựa chọn các yếu tố, ở đây là của hệ thống tiếng Việt kĩ thuật và sự diễn đạt ngôn ngữ kĩ thuật.

Chúng ta thấy rất rõ rằng chính xã hội công nghiệp, trong điều kiện giao lưu quốc tế rộng rãi giữa các quốc gia đang đem lại cho ngôn ngữ mỗi dân tộc những phát triển mới và những giao thoa mới.

Như vậy, vai trò của tiếng Việt kĩ thuật đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vô cùng to lớn. Tiếng Việt kĩ thuật đóng góp trực tiếp vào những tiến bộ của khoa học và kĩ thuật hiện đại và chịu tác động to lớn của sự phát triển của các ngành kĩ thuật hiện đại. Đồng thời, nó làm giàu thêm cho tiếng Việt.

IV – Dự đoán vai trò của tiếng Việt kĩ thuật ở thế kỉ XXI

Vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, khi xã hội công nghiệp được xuất hiện ở Việt Nam thì tiếng Việt vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng là “cơ sở hạ tầng”, góp phần vào việc cấu tạo một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành xã hội công nghiệp hiện đại. Trong thế kỉ XXI, tiếng Việt vẫn tiếp tục là cơ sở “nhập” các từ ngữ và các khái niệm của thời kì phát triển kinh tế mới ở Việt Nam, nhất là các ngành khoa học, công nghệ then hốt cho sự phát triển này. Tiếng Việt vẫn giữ vai trò ngày càng quan trọng của sự nghiệp giáo dục và nâng cao dân trí. Điểm mới là tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt kĩ thuật, sẽ tham gia tích cực vào các quá trình hoạt động của xã hội công nghiệp hiện đại: vào các lĩnh vực hoạt động của khoa học kĩ thuật và công nghệ, vào việc đào tạo các ngành nghề mới, vào việc soạn thảo các chương trình công nghệ mới trên máy vi tính v.v.

Ở thế kỉ XXI, tuy phải “cạnh tranh” với một số tiếng nước ngoài, đặc biệt là với tiếng Anh, tiếng Việt kĩ thuật vẫn luôn có vai trò quyết định trong giao tiếp chuyên môn và trong việc giữ gìn, bảo tồn các di sản văn hóa của mình.

V – Lược khảo các sách giáo khoa tiếng Việt và tập làm văn phổ thông

Hệ thống sách giáo khoa tiếng Việt được tham khảo bao gồm các sách giáo khoa tiếng Việt và bài tập từ lớp 1 đến lớp 11, sách giáo khoa tập làm văn các lớp 10, 11, 12.

Qua nghiên cứu và khảo sát, chúng tôi thấy rằng:

– Lượng từ và câu có liên quan đến văn hóa khoa học kĩ thuật và công nghệ xuất hiện không đồng đều, không liên tục trong cả bộ sách đã nêu. Các sách có sử dụng từ và câu thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học kĩ thuật là:

+ Tiếng Việt lớp 1, tập 1&2 dưới dạng các từ, câu, bài viết, bài thơ có liên quan đến cuộc sống hàng ngày như: cái đe, ô tô, ca nô, xe lu, máy bay, xe cộ, máy cày, nhà máy, trái đất …

Tí đi ô tô.

Em đi máy bay.

+ Tiếng Việt lớp 2 tập 1, lớp 3 tập 2 dưới dạng bài viết, bài thơ về ngành nghề liên quan đến khoa học kĩ thuật và công nghệ (văn bản tham khảo số 1,2 phần phụ lục)

– Kiến thức về văn bản khoa học được giới thiệu ở các sách giáo khoa:

+ Tiếng Việt lớp 4 tập 2 dưới dạng giới thiệu một số thuật ngữ và khái niệm về khoa học và kĩ thuật (văn bản tham khảo số 3 phần phụ lục)

+ Tiếng Việt lớp 9 dưới dạng giới thiệu sơ lược sự phân loại và đặc điểm chung của văn bản khoa học. Phần luyện tập không có bài tập cho văn bản khoa học kĩ thuật và công ghệ (văn bản tham khảo số 4, 5 phần phụ lục) 

+ Tiếng Việt lớp 11 dưới dạng giới thiệu phong cách ngôn ngữ khoa học một cách ngắn gọn (01 tiết học). Phần bài tập có 01 câu hỏi về so sánh với phong cách ngôn ngữ hính luận (văn bản tham khảo số 6, 7 phần phụ lục).

Như vậy, lượng kiến thức về ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ được phân bố trong chương trình phổ thông là không đáng kể, chưa cụ thể và không đồng bộ. Việc dạy soạn thảo các thể loại văn bản khoa học kĩ thuật hầu như không được đặt ra. Điều này càng khẳng định cần thiết phải có sự hiện diện của tiếng Việt kĩ thuật trong chương trình đào tạo cao đẳng và đại học tại trường Đại họ Bách khoa Hà Nội.

VI – Lược khảo một số sách tiếng Việt cơ bản đang được sử dụng để giảng dạy tại trường KHXH&NV và các trường đại học ngoại ngữ

Hiện nay, số lượng sách tiếng Việt được sử dụng để giảng dạy và tham khảo dành cho sinh viên khối KHXH&NV là khá phong phú và đa dạng. Đây là chương trình tiếng Việt thực hành cho sinh viên thuộc giai đoạn đại học đại cương (đề mục tham khảo phần phụ lục). 

Lượng kiến thức về tiếng Việt ở giai đoạn đại học đại cương, có thể nói, là cần thiết không chỉ đối với sinh viên thuộc khối KHXH&NV, mà còn rất cần đối với sinh viên thuộc khối KHXH&CN. Việc cập nhật cơ sở tiếng Việt khoa học cho các đối tượng là sinh viên cao đẳng và đại học khối KHKT&CN là không thể thiếu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các vấn đề của tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ, về câu như câu sai, chính tả, dấu câu, viết tắt, phương pháp diễn đạt v.v., về văn bản đều chưa được đề cập đến trong chương trình phổ thông và được trình bày rất cụ thể trong chương trình đại học đại cương thuộc khối KHXH&NV.

VII – Thực trạng việc sử dụng tiếng Việt trong trường đại học kĩ thuật và công nghệ như trường ĐHBK Hà Nội và tính cấp bách của chương trình tiếng Việt dành cho sinh viên khối KHKT&CN

Ngôn ngữ chuyên ngành kĩ thuật, cũng như ngôn ngữ phổ thông, được biểu đạt qua ngôn bản, văn bản. Tuy nhiên, điểm khác biệt là ngôn ngữ kĩ thuật còn có thể được biểu đạt qua các công thức, hình vẽ, mô phỏng và đòi hỏi sự rõ ràng, chính xác cao. Nói cách khác, văn phong khoa học – công nghệ có những đặc điểm chuyên ngành phân biệt cơ bản với các văn phong khác.

Cách đây hơn ba thập kỉ, khi nhấn mạnh vai trò và tác dụng của tiếng Việt trong các ngành KHKT ở trường ĐHBK Hà Nội, GS. Phạm Đồng Điện đã viết: “… Qua hơn 10 năm giảng dạy bằng tiếng Việt ở trường ĐHBK Hà Nội, chúng tôi càng thấy rõ việc dùng tiếng Việt có một ý nghĩa rất to lớn và đã góp phần quan trọng vào việc đào tạo cán bộ kĩ thuật cho tổ quốc, vào việc phát triển khoa học kĩ thhuật nước nhà đến những trình độ cao nhất, cũng như vào việc truyền bá khoa học – kĩ thuật trong nhân dân. Trong việc xây dựng ngôn ngữ kĩ thuật bằng tiếng Việt, chúng tôi không thấy rõ ngay từ đầu tất cả giá trị của tiếng Việt. Nhưng dần dần cho đến bây giờ, sau 10 năm, nhìn lại chúng tôi mới thấy tự hào về tiếng Việt, mà càng tự hào về tiếng nói chúng ta, chúng tôi càng tự hào về dân tộc chúng ta …” (Trích “Dùng tiếng Việt trong các ngành khoa học – kĩ thuật ở trường ĐHBK Hà Nội”, nxb.Hà Nội, 1967).

Ngôn ngữ là một thiết chế đặc biệt của xã hội, gắn bó khăng khít với xã hội, vì vậy, sự phát triển của xã hội làm cho ngôn ngữ phát triển theo. Do đó, việc giữ gìn một ngôn ngữ không đồng nghĩa với việc giữ gìn một công ccụ bình thường trong đời sống, mà luôn luôn hàm nghĩa phát triển ngôn ngữ đó. Như vậy, giữ gìn trong sáng của tiếng Việt không thể tách rời tiếng Việt.

Hiện nay, trog quá trình hội nhập và ở giai đoạn công ghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt lại càng cần thiết. Ở đây, việc phát triển và chuẩn hóa tiếng Việt khoa học là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong việc sáng tạo các hệ thống thuật ngữ khoa học – công nghệ chuyên ngành tiếng Việt (vay mượn từ tiếng Hán, Pháp, Nga, Anh v.v.).

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy cần nhấn mạnh rằng chuẩn hóa ngôn ngữ cần có sự định hướng và tham gia một cách có ý thức của con người vào quá trình phát triển của ngôn ngữ. Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục ở các cấp từ phổ thông đến đại học, nâng cao dân trí và truyền bá các kiến thức. Để nắm vững và nâng cao kiến thức về khoa học kĩ thuật, điều tất nhiên là sinh viên cần phải có kiến thức về ngôn ngữ của khoa học kĩ thuật, tức là tiếng Việt khoa học kĩ thuật và công nghệ (gọi tắt là tiếng Việt kĩ thuật).

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng sinh viên thuộc khối KHKT như sinh viên ĐHBK Hà Nội thường có số điểm thấp về môn tiếng Việt và tập làm văn ở các năm học phổ thông. Với lượng kiến thức về tiếng Việt chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ không đáng kể. Sau khi nhập trường, từ năm thứ nhất đến khi ra trường, sinh viên khối khoa học kĩ thuật không được bổ trợ kiến thức về ngôn ngữ kĩ thuật (tiếng Việt kĩ thuật) nên thường sử dụng tiếng Việt để viết báo cáo khoa học hoặc luận văn tốt nghiệp một cách tự phát, không được rèn luyện theo chuẩn mực của thể loại văn phong, dẫn tới việc biểu đạt nội dung khoa học của báo cáo hoặc luận văn không đạt hiệu quả như nó phải có. Chúng ta có thể tham khảo về cách sử dụng câu của sinh viên khối khoa học kĩ thuật trong một vài ví dụ sau:

1. Những thuận lợi của việc tạo xỉ trong lò điện quang hồ đã được chứng minh. Bao gồm các yếu tố sau: …. (câu thiếu chủ ngữ). Sự tăng chiều dài hồ quang yếu tố đó cho phép tăng điện thế hồ quang lớn hơn, bởi vậy đưa đến hiện tại tăng khả năng di chuyển nhiệt tới bể chứa, với một ít năng lượng kết hợp với tia phát xạ bị mất để bảo vệ vật liệu tới một giới hạn và che những tia phát xạ sáng rực lên và sinh ra nitơ. (trật tự câu lủng củng và sai ngữ pháp) (Bài tập chuyên ngành)

2. Sự phát triển của ALARC – PC, là cần thiết cho sự hiểu biết cơ bản ảnh hưởng của ô xy trong đó nó được ứng dụng trong lò điện hồ quang2 nguyên lí trên là nguyên lí nhiệt động học và phản ứng do động lực. (câu rườm rà và tối nghĩa) (Bài tập dịch chuyên ngành)

3. Đối với quá trình cháy of than … (đoạn câu không chuẩn Việt) (Bài tập dịch chuyên ngành)

Xuất phát từ những bức xúc về trình độ tiếng Việt của sinh viên khối KHKT&CN, chương trình Tiếng Việt kĩ thuật được soạn thảo trong đề tài này dưới dạng đề cương. Nếu được triển khai, giáo trình cho môn học Tiếng Việt kĩ thuật sẽ được biên soạn nhằm giúp sinh viên ĐHBK Hà Nội tiếp nhận được kiến thức về ngôn ngữ kĩ thuật, các phương pháp và thủ thuật đặt câu chuẩn, tạo văn bản một cách rõ ràng, chính xác, tạo điều kiện cho việc nâng cao kiến thức chuyên môn và tiếp nhận chuyên môn có hiệu quả, giúp sinh viên đạt kết quả trong việc dịch thuật các văn bản chuyên ngành từ một ngoại ngữ sang tiếng mẹ đẻ và ngược lại.

VIII – Đề cương chương trình môn học Tiếng Việt kĩ thuật dành cho sinh viên khối KHKT & CN (2 đvht)

A – TỔNG QUAN VỀ TIẾNG VIỆT

1. Cơ sở nguồn gốc tiếng Việt

2. Chức năng xã hội của tiếng Việt

3. Những đặc trưng loại hình của tiếng Việt về âm, từ, ngữ, câu, văn bản, văn phong

4. Vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt

5. Mục tiêu và nhiệm vụ của môn tiếng Việt kĩ thuật

B – ĐẠI CƯƠNG VỀ VĂN BẢN

1. Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của văn bản

2. Giản yếu về một số loại văn bản

         a) Văn bản khoa học kĩ thuật

         b) Văn bản nghị luận

         c) Văn bản hành chính

C – PHÂN TÍCH VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN

1. Phương thức tóm tắt một tài liệu khoa học và kĩ thuật

2. Phương thức tạo lập một văn bản khoa học và kĩ thuật

         a) Xác định các nhân tố giao tiếp của văn bản

         b) Lập đề cương cho một văn bản

         c) Viết đoạn văn và văn bản

         d) Kiểm tra, sửa chữa và hoàn thiện văn bản

D – ĐẶT CÂU TRONG VĂN BẢN

1. Yêu cầu về câu trong một văn bản khoa học và kĩ thuật

2. Đặc điểm về câu trong văn bản khoa học và kĩ thuật, văn bản nghị luận và văn bản hành chính

3. Các phương pháp xây dựng một đoạn văn

4. Thực hành các phương pháp rèn luyện câu

         a) Mở rộng và rút gọn câu

         b) Tách và ghép câu

         c) Thay đổi trật tự các thành phần câu

         d) Chuyển đổi các kiểu câu

         e) Chuyển đổi cách diễn đạt trong câu

         f) Xây dựng đoạn văn mạch lạc

E – Chữa lỗi câu

         a) Lỗi về cấu tạo ngữ pháp (chủ yếu lỗi dùng từ trong câu và dùng các công cụ ngữ pháp để tạo câu)

         b) Lỗi về quan hệ ngữ nghĩa

         c) Lỗi về câu thiếu thông tin

         d) Lỗi về dấu câu

         e) Các loại lỗi về liên kết, mạch lạc, lôgíc và lập luận

         f) Lỗi về sử dụng phong cách ngôn ngữ chức năng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt. TT, Nxb.KHXH, Hà Nội, 1967.

2. Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên). Một số vấn đ ngôn ngữ học Việt Nam. Nxb.ĐH&THCN, Hà Nội, 1981.

3. Nguyễn Kim Thản và những người khác. Tiếng Việt trên đường phát triển. Nxb.KHXH, 1982.

4. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ. Nxb.KHXH, Hà Nội, 1984.

5. Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên). Ngôn ngữ trong xã hội công nghiệp hóa. Hà Nội, 1996.

6. Lại Văn Toàn (chủ biên). Việt ngữ học ở nước ngoài. Hà Nội, 1998.

7. Ngôn ngữ và văn hóa – 900 năm Thăng Long – Hà Nội. Kỉ yếu Hội thảo của Hội ngôn ngữ học Hà Nội và Khoa ngôn ngữ trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2000.

8. Các sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 10.

9. Các sách giáo khoa Tập làm văn lớp 10, 11, 12.

10. Các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Tiếng Việt thực hành (chương trình dành cho đại học đại cương).

11. Trần Ngọc Thêm. Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb.Giáo dục, 1992.

12. Các bài báo, tạp chí về ngôn ngữ 1998, 1999.

13. Các sách bàn về văn bản khoa học kĩ thuật – công nghệ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: