ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

Công nghệ khối liệu trong dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ*

Posted by daothu09 on March 13, 2011

Dr. Dao Hong Thu

Tóm tắt

Nửa thế kỷ qua, ngôn ngữ học khối liệu (Corpus Linguistics) đã trở thành tâm điểm phương pháp luận trong ngôn ngữ học ứng dụng và lý luận ngôn ngữ. Ngôn ngữ học khối liệu là khoa học liên ngành giữa ngôn ngữ học, khoa học máy tính và kỹ thuật số. Từ những năm đầu tiên của thế kỷ XXI, ngôn ngữ học khối liệu được nghiên cứu và khối liệu ngôn ngữ được đưa vào ứng dụng ngày càng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khoa học và đời sống xã hội không chỉ ở các nước phát triển.

Các khối liệu ngôn ngữ được xây dựng ngày càng nhiều và đa dạng cho các mục đích sử dụng khác nhau. Nhiều khối liệu ngôn ngữ được đánh giá như một tài sản quý giá của quốc gia, có giá trị lưu trữ và sử dụng nguồn tài nguyên ngôn ngữ của dân tộc đối với các thế hệ cộng đồng xã hội sử dụng ngôn ngữ. Khối liệu ngôn ngữ được sử dụng rất hiệu quả trong dạy và học ngôn ngữ (ngoại ngữ hoặc bản ngữ).

Công nghệ khối liệu là một trong các lĩnh vực hoạt động trong ngôn ngữ học khối liệu hiện đại. Công nghệ khối liệu đóng vai trò đặc biệt tích cực trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ (ngoại ngữ hoặc bản ngữ). Bài báo đề cập vấn đề công nghệ khối liệu trong dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ.     

  

I.       Dẫn nhập

Hiện nay, ngày càng có nhiều ngôn ngữ trên thế giới tham gia vào giao tiếp trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế của các quốc gia trên toàn thế giới. Trong số các ngôn ngữ này có tiếng Việt.

Thế kỷ XXI đã bắt đầu với hàng loạt phát triển vượt bậc về công nghệ và khoa học liên ngành, trong đó có công nghệ dạy học và khoa học về khối liệu. Trong những năm gần đây, giới chuyên môn trong và ngoài nước đặc biệt quan tâm đến nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng công nghệ khối liệu dưới góc độ là nhân tố nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ. Trong khuôn khổ bài báo, tác giả đề cập đến vấn đề khối liệu ngôn ngữ có sự tham gia của tiếng Việt và ứng dụng công nghệ khối liệu trong dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Việc sử dụng khối liệu ngôn ngữ vào giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, lần đầu tiên, đã được trình bày tại Hội thảo quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam – Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á (lần thứ III), tháng 11/2009, nhằm giới thiệu sơ bộ phương pháp tạo lập ban đầu và sử dụng khối liệu đã được nghiên cứu và thực hiện trong quá trình giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ[1].

Như đã rõ, kết quả nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực ngôn ngữ học ứng dụng đã góp phần to lớn vào cơ sở lý luận và thực tiễn sử dụng khối liệu ngôn ngữ trong quá trình dạy và học tiếng nước ngoài. Xây dựng và nghiên cứu khối liệu thuộc lĩnh vực ngôn ngữ học đang được phát triển rất nhanh trong giai đoạn hiện nay là ngôn ngữ học khối liệu, một khoa học liên ngành xuất hiện do nhu cầu cấp bách trong quá trình ứng dụng công nghệ máy tính vào việc xử lý khối lượng khổng lồ các dữ liệu ngôn ngữ trong nhiều lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế quốc dân.

Các khái niệm về khối liệu ngôn ngữ và ngôn ngữ học khối liệu đã được tác giả trình bày trong một số bài báo[2]. Trong giai đoạn phát triển khoa học hiện nay, theo nghiên cứu trên thực tế của chúng tôi, khối liệu được sử dụng cho giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ có thể chứa khoảng từ 45 ngàn đến 500 triệu đơn vị từ và cụm từ, tùy thuộc vào mục đích sử dụng của từng thể loại khối liệu. Các khối liệu này khác nhau về dung lượng và cấu trúc xây dựng, ví dụ, khối liệu được sử dụng để xây dựng từ điển bao gồm hàng chục triệu đơn vị từ và cụm từ sử dụng; khối liệu để soạn giáo trình theo chuyên ngành có thể không lớn, chỉ chứa vài triệu đơn vị từ và cụm từ sử dụng được trích dẫn từ nguyên bản các bài giảng và seminar.

Điển hình cho việc nghiên cứu và sử dụng công nghệ khối liệu trong giảng dạy ngoại ngữ là dự án quốc tế “Công nghệ truyền thông – thông tin đối với giảng viên ngoại ngữ” được thực hiện từ năm 1999 đến năm 2007, do chương trình SOCRATES thuộc Ủy ban Châu Âu và các quỹ Châu Âu tài trợ. Dự án do một số trường đại học của Anh, Ý, Phần Lan và Thụy Điển thực hiện trong khuôn khổ của Hiệp hội Châu Âu về ứng dụng công nghệ máy tính vào giảng dạy ngoại ngữ (EUROCALL) và dành cho giảng viên ngoại ngữ. Các kết quả nghiên cứu được trình bày trên trang web dưới dạng các môđun giảng dạy và do các giảng viên ngoại ngữ có nhiều kinh nghiệm sử dụng công nghệ thông tin – truyền thông trong hoạt động chuyên môn trực tiếp xây dựng. Phương tiện kỹ thuật giảng dạy mới được đề cập ở đây là khối liệu ngôn ngữ.

Vấn đề sử dụng công nghệ khối liệu trong giảng dạy ngoại ngữ còn được nghiên cứu tại nhiều trung tâm nghiên cứu trên thế giới, tại trung tâm ngôn ngữ học ứng dụng CALPER là một ví dụ điển hình.

II.    Vấn đề sử dụng công nghệ khối liệu trong việc giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

1.  Vai trò của công nghệ khối liệu trong giảng dạy ngôn ngữ 

Có thể nói rằng công nghệ khối liệu trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ còn đang là vấn đề hoàn toàn mới mẻ, mặc dù rất cần thiết nếu xét cả về mặt lí thuyết và thực hành. Trong khi đó, tại nhiều nước trên thế giới, thuật ngữ “khối liệu” (corpus) và các phương pháp sử dụng công nghệ khối liệu ngôn ngữ đã trở nên khá quen thuộc với người dạy và người học ngoại ngữ. Tại Việt Nam, các khái niệm trên là mới hoàn toàn trong lĩnh vực giáo dục và giảng dạy ngôn ngữ (bản ngữ và ngoại ngữ), trong đó có tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Theo nghiên cứu của chúng tôi, công nghệ khối liệu đem lại nhiều lợi ích cho người sử dụng, cụ thể là:

  • Hiệu quả cao trong dạy và học tiếng Việt do độ chính xác về ngữ âm, từ vựng và cấu trúc câu trong các khối liệu ngôn ngữ được sử dụng;
  • Giảm công sức và tiết kiệm thời gian cho việc chuẩn bị bài giảng và đánh giá trình độ người học do tính rõ ràng, cụ thể, tin cậy của các khối liệu ngôn ngữ;
  • Phù hợp trình độ và nâng cao tính sáng tạo trong hoạt động giao tiếp do các phân tích ngôn ngữ trong khối liệu được xây dựng và phát triển theo các trình độ của người học. 

Để có các giải pháp cho việc sử dụng công nghệ khối liệu theo hướng xây dựng các khối liệu ngôn ngữ có sự tham gia của tiếng Việt, nghĩa là các khối liệu đơn ngữ (tiếng Việt), khối liệu song ngữ (tiếng Việt – tiếng nước ngoài hoặc tiếng nước ngoài – tiếng Việt) hoặc đa ngữ (tiếng Việt – tiếng nước ngoài – tiếng Việt), chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu công nghệ khối liệu trong giảng dạy ngoại ngữ của các đồng nghiệp nước ngoài, cụ thể là tiếng Anh.

Một cách tổng quan, đối với tiếng Anh, công nghệ khối liệu được sử dụng không chỉ trong giảng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ nói chung, mà còn cả trong các lĩnh vực khoa học chuyên sâu như tiếng Anh chuyên ngành (ESP), đặc biệt là tiếng Anh hàn lâm chuyên ngành (EAP)[3]. Ở đây, khối liệu ngôn ngữ được sử dụng chủ yếu trong dạy và học viết các thể loại văn bản bằng tiếng Anh thuộc các chuyên ngành khoa học và công nghệ khác nhau như chế tạo máy, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, môi trường và v.v.[4]

Theo nhận định  của một số nhà khoa học như G. Aston, S. Bernhardt, S. Conrad, P. Edwards, L. Gavioli, P. Wojahn, H. Yoon thì việc sử dụng công nghệ khối liệu đóng vai trò đặc biệt hữu ích trong việc luyện các kỹ năng cho người học, cụ thể là nói và viết. H. Yoon đã đưa ra kết luận trong luận án tiến sĩ của ông rằng sử dụng khối liệu ngôn ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ không những tạo được cho người học hiểu dễ dàng hơn cấu trúc của ngoại ngữ, mà còn giúp được họ hiểu biết sâu sắc hơn toàn bộ quá trình học tập của mình.

Một tác dụng đáng chú ý của công nghệ ngôn ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ là khả năng sử dụng bảng danh mục (concordance) trên lớp học. Các loại bảng danh mục (concordance) có thể sử dụng để:

  •  Mô phỏng các ví dụ xác thực trong sử dụng các đơn vị từ vựng nhất định, các cụm từ, cấu trúc ngữ pháp, nội dung văn bản;
  •  Hình thành các nguyên tắc ngữ pháp và nguyên tắc sử dụng các đơn vị từ  vựng;
  •  Mở rộng vốn từ điển (tìm kiếm nghĩa mới của các từ đã có trong từ điển, tương quan của từ và cụm từ với ngữ cảnh, nhập ngữ liệu vào từ điển một cách độc lập hoặc nhờ trợ giúp của giảng viên, so sánh các văn bản được tạo lập bởi người bản ngữ và người nước ngoài và v.v.).

Theo quan sát trong nghiên cứu của chúng tôi, vai trò công nghệ khối liệu trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ được thể hiện trong suốt quá trình dạy và học như một động lực thúc đẩy toàn bộ quá trình này để đạt được hiệu quả với các mục tiêu đề ra.

2.    Một vài ví dụ thực hành về nghiên cứu công nghệ khối liệu trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ

Nghiên cứu vấn đề về công nghệ khối liệu trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho thấy quá trình giảng dạy và công nghệ khối liệu có mối quan hệ khăng khít với nhau. Mối quan hệ này có thể lý giải và quan sát được trong quá trình học tập của người học:

  • Người học cần phải tích cực trong việc sử dụng và phân tích các dữ liệu của khối liệu trong lĩnh vực tiếng Việt cơ sở, cũng như tiếng Việt chuyên ngành;
  • Đồng thời, các dữ liệu của khối liệu cũng cần được xây dựng theo các chuẩn quy định để có thể sử dụng được một cách rộng rãi ngay cả trong giao tiếp theo chuyên ngành khoa học nhất định và giảm thiểu được tối đa khó khăn khi sử dụng từ vựng và ngữ pháp, cũng như băn khoăn của người học khi phải lựa chọn phương án đúng/sai trong văn bản hoặc lời nói.       

Nghiên cứu áp dụng công nghệ khối liệu vào giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ cho thấy hiệu quả sử dụng khối liệu ngôn ngữ vào quá trình dạy và học phụ thuộc phần lớn vào trình độ và khả năng tiếp nhận ngoại ngữ của người học. Trình độ ngoại ngữ của người học càng cao thì khả năng thực hiện tìm kiếm, phân tích các kết quả nhận được trong hệ thống danh mục từ (concordance) và cụm từ theo tần số sử dụng càng cao. Đồng thời, nội dung khối liệu ngôn ngữ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả tiếp nhận bài học và đóng vai trò quan trọng trong quá trình giảng dạy.

Thực tế đã chứng minh rằng quá trình dạy và học ngoại ngữ nói chung, tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng đã trải qua rất nhiều biến đổi về phương pháp luận. Quan điểm về việc sử dụng khối liệu trong giảng dạy ngoại ngữ cũng cần được thay đổi: khối liệu ngôn ngữ cần được xem như phương tiện hữu hiệu của việc dạy và học, mà không chỉ là tài liệu học tập và tham khảo.

Sự cần thiết phải xây dựng khối liệu ngôn ngữ đối với việc giảng dạy ngoại ngữ nói chung, tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng, trên thực tế, thể hiện trực tiếp qua nhu cầu của người học. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát sơ bộ nhu cầu này đối với trên 500 sinh viên trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ và Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội về nhu cầu sử dụng các sản phẩm công nghệ khối liệu ngôn ngữ như dịch máy (dịch tự động), các loại hình bài học, bài tập và từ điển dưới dạng số hóa. Kết quả khảo sát trên cho thấy đến gần 85% số sinh viên các trường đại học nói trên có nhu cầu sử dụng các sản phẩm của công nghệ khối liệu với mục đích học tập và thực hành cho tương lai lập nghiệp.

Nghiên cứu thực tế sử dụng công nghệ khối liệu cho thấy, ngoài khối liệu song song, một trong các kiểu khối liệu ngôn ngữ quan trọng nhất đối với phương pháp dạy và học ngoại ngữ là khối liệu của người học. Đây là kiểu khối liệu dành riêng cho người học để lưu trữ các bài viết, lời nói của chính người học dưới dạng cơ sở dữ liệu và có thể được phân tích bởi chính người học hoặc giảng viên khi cần thiết trong quá trình học tập và giảng dạy. Kiểu khối liệu này cho phép dễ dàng tìm ra các lỗi về ngữ âm, ngữ pháp và v.v. của người học, cũng như những “khoảng trống” trong kiến thức về ngoại ngữ của người học. Điều cần đề cập ở đây là kiểu khối liệu ngôn ngữ trên còn chưa được xây dựng và sử dụng trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ.

Việc giải quyết các vấn đề về công nghệ khối liệu trong giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ đòi hỏi những hướng dẫn cụ thể trước khi sử dụng khối liệu đối với giảng viên cũng như người học. Đối với người học, đó là việc làm quen với các loại hình bài học và bài tập khác nhau trong các trường hợp không có máy tính và trên máy tính, qua Internet. Đối với giảng viên, việc chuẩn bị để sử dụng được khối liệu ngôn ngữ trong giảng dạy ngoại ngữ nói chung, tiếng Việt như một ngoại ngữ nói riêng phức tạp hơn và theo các quy chuẩn nhất định. Các chuẩn cần được xác định ngay từ giai đoạn chuẩn bị bài giảng đầu tiên. Ví dụ, bảng chữ cái tiếng Việt có thể chuẩn bị dưới dạng tiền khối liệu như sau:

STT Phụ âm Nguyên âm Thanh điệu
          1.         B A không
          2.         C Ă huyền ¯
          3.         D Â sắc ´
          4.         Đ E hỏi ?
          5.         G Ê ngã ~
          6.         H I nặng .
          7.         K O  
          8.         L Ô  
          9.         M Ơ  
        10.       N U  
        11.       P Ư  
        12.       Q Y  
        13.       R    
        14.       S    
        15.       T    
        16.       V    
        17.       X    

Một cách trực quan, nhìn vào bảng trên, người học có thể thấy ngay được số lượng phụ âm, nguyên âm (đơn) và thanh điệu tiếng Việt.

Theo quan sát của chúng tôi, do đặc thù của tiếng Việt là có thanh điệu (06), nhiều học viên đã gặp khó khăn trong phát âm và phân biệt nghĩa các từ và cụm từ tiếng Việt trong sử dụng. Có thể khắc phục tình trạng này bằng cách lập các tiền khối liệu mẫu để người học có thể hiểu bài và thuộc nghĩa từ hoặc cụm từ sử dụng nhanh hơn. Ví dụ, dùng phụ âm m ghép với nguyên âm a và các thanh điệu để tạo từ:

Từ Nghĩa từ Dịch
ma người đã thuộc về cõi âm (dt)

  • danh từ: 03 nghĩa
  • tính từ: 01 nghĩa
 
nhưng, song (kt)

  • trợ từ: 01 nghĩa
  • kết từ: 07 nghĩa
  • danh từ: 01 nghĩa
 
phần ở hai bên mặt, dưới mắt (dt)mẹ (tiếng miền Nam) (dt)

  • · danh từ: 04 nghĩa
 
mả mộ (dt)

  • · danh từ: 02 nghĩa
  • · tính từ: 01 nghĩa
 
code (dt)số lần cân (dt)

  • · danh từ: 06 nghĩa
 
mạ mẹ (tiếng miền Trung) (dt)lúa non chưa trổ bông (dt)

phủ lớp mỏng (ví dụ, kim loại) lên vật khác (đt)

 

Trên cơ sở ghép âm dưới sự hướng dẫn của giảng viên, người học có thể tự học thêm một cách sáng tạo bằng cách sử dụng công nghệ khối liệu.

Trong khi chưa có hệ thống khối liệu chuyên dụng dành cho việc dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ, giảng viên có thể tự tạo lập các tiền khối liệu ngôn ngữ, theo nghiên cứu của tác giả, cũng có thể đem lại hiệu quả nhất định. Để giúp người học tiếp nhận nghĩa từ và cụm từ, giảng viên có thể tạo “khối” một cách thủ công, ví dụ, cho từ bánh (đồ ăn) bằng các tập hợp có từ bánh:

STT Bánh Nguyên liệu chính Minh họa Dịch
       1.         Bánh chưng Gạo nếp, đậu xanh, thịt heo, hạt tiêu, muối …     
       2.         Bánh bèo Bột gạo, bột năng, bông tôm, cà rốt ….    
       3.         Bánh bò Bột gạo, nước cốt dừa, men, muối, đường    
       4.         Bánh bột lọc Bột sắn, tôm, thịt heo …    
       5.         Bánh trôi chay Bột nếp, đường bánh, đậu xanh, bột năng …    
       6.         Bánh 9 tầng mây Bột năng, bột gạo tẻ, đậu xanh, nước dừa …    
       7.         Bánh cốm Cốm, đậu xanh, dừa, đường    
       8.         Bánh cuđơ Mật mía, mạch nha, gừng, lạc, bánh đa nướng …    
       9.         Bánh cuốn Bột gạo tẻ, hành khô, thịt, mộc nhĩ, muối …    
     10.       Bánh dày Bột nếp, giò …    
     11.       Bánh đúc Bột gạo, lạc, tương, muối …    
     12.       Bánh trung thu Bột mỳ, bột nếp, đường, đậu xanh, lạp xường, mứt …    
     13.       Bánh rán Bột nếp, đậu xanh, đường hoặc thịt băm, muối …    
     14.       Bánh phu thê Tinh bột gạo nếp, đậu xanh, dừa, đường ….    
     15.       Bánh gối Bột mỳ, thịt, miến, mộc nhĩ, củ đậu, muối ….    

Việc xây dựng khối liệu ngôn ngữ dành cho giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ phụ thuộc chủ yếu vào trình độ đầu vào của người học và mục tiêu của khóa học.

III.     Lời kết 

Các nghiên cứu cho thấy chưa thể đưa ra kết luận về hiệu suất và số phần trăm của việc sử dụng công nghệ khối liệu ngôn ngữ trong quá trình dạy và học tiếng Việt như một ngoại ngữ. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng công nghệ khối liệu là đã rõ ràng và bắt đầu được khẳng định trên thực tiễn giảng dạy ngữ ở Việt Nam. Theo nhận định của chúng tôi, sử dụng công nghệ khối liệu vào giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ sẽ giảm được rất nhiều khó khăn cho người học do giao thoa ngôn ngữ gặp phải trong quá trình học và tiết kiệm được nhiều thời gian, công sức cho giảng viên trong việc chuẩn bị bài giảng và đánh giá kết quả khóa học.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

1. Aston G (1995). Corpora in Language Pedagogy: Matching Theory and Practice // G. Cook, B. Seidlhofer (Eds.). Principle and Practice in Applied Linguistics: Studies in Honour of H. G. Widdowson. Oxford: Oxford University Press. P. 257–270.

2. Conrad S., (1999). The Importance of Corpus-based Research for Language Teachers. System. № 27. P. 1–18.

3. Fuentes A. C., (2006). A Corpus-based Focus on ESP Teaching// Teaching English with Technology: a Journal for Teachers of English. Vol. 6. Issue 4.

4.     Gavioli L., Aston G., (2001). Enriching Reality: Language Corpora in Language Pedagogy. ELT Journal. № 55 (3). P. 238–246.

5. Halliday M. A. K., (1991). Corpus Studies and Probabilistic Grammar// K. Aijmer, B. Altenberg (Eds.). English Corpus Linguistics: Studies in Honour of Jan Svartvik. London: Longman. P. 30–43.

6. Johns T., (1994). From Printout to Handout: Grammar and Vocabulary Teaching in the Context of Datadriven Learning // T. Odlin (Ed.). Perspectives on Pedagogical Grammar. Cambridge: Cambridge University Press. P. 293–313.

7. Kennedy G., (1998). An Introduction to Corpus Linguistics. London: Longman.

8. McCarthy M., (2004). Using a Corpus in Language Teaching // CALPER Professional Development Document CPDD-0410. 

9. Mindt T., (1996). English Corpus Linguistics and the Foreign Language Teaching Syllabus// J. Thomas, M. Short (Ed.) Using Corpora for Language Research: Studies in Honour of Geoffrey Leech. London: Longman. P. 232–247.

10. Sinclair J., (1991). Corpus, Concordance, Collocation. Oxfortd: Oxford University Press.

11. Thomas J., (2006). Using Corpora in Language Teaching and Learning // Teaching English with Technology: A Journal for Teachers of English. January. Vol. 6. Issue 1.

12. Yoon H., (2005). An Investigation of Students’ Experiencies with Corpus Technology in Second Language Academic Writing. Dissertation presented in partial fulfillment of the requirements for the degree of Doctor of Philosophy in the graduate school of the Ohio State University. Ohio State University.

13. Wichmann A., Fligelstone S., McEnery T., Knowles G., (1997). Teaching and language corpora. London: Longman.

14. Đào Hồng Thu (2009). Ngôn ngữ học khối liệu và những vấn đề liên quan (Quyển I). Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009.

15. Đào Hồng Thu (2009). Sử dụng khối tư liệu giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ (2009). K/y Hội thảo Quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam – Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á (lần thứ III), tháng 11/2009. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 543-554.

[1] Đào Hồng Thu (2009). Sử dụng khối tư liệu giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ (2009). K/y Hội thảo Quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy ngôn ngữ, văn hóa Việt Nam – Trung Quốc ở Đông Á và Đông Nam Á (lần thứ III), tháng 11/2009. Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 543-554.

[2] Đào Hồng Thu (2009). Ngôn ngữ học khối liệu và những vấn đề liên quan (Quyển I). Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 2009.

[3] Mindt T. (1996). English Corpus Linguistics and the Foreign Language Teaching Syllabus// J. Thomas, M. Short (Ed.) Using Corpora for Language Research: Studies in Honour of Geoffrey Leech. London: Longman, 1996. P. 232–247.

[4] Шаламова Н.Н., Фильченко А.Ю (2004). Корпусная лингвистика и её использование в профильно-ориентированном преподавании иностранных языков. Томск: ТПУ.

* Đào Hồng Thu (2011). Kỷ yếu Hội thảo quốc tế Nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt lần thứ nhất. Bình Châu – Vũng Tàum, 2-2011, tr.50-57.


Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

 
%d bloggers like this: