ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

Archive for the ‘NN chuyên ngành’ Category

Ngôn ngữ chuyên ngành nhìn từ góc độ phương pháp giao tiếp trong khoa học và tiếp nhận văn bản khoa học

Posted by daothu09 on August 29, 2009

34. Bai bao TC 04-0734. Bai bao TC 04-07 (1)

 

Dr. Đào Hồng Thu (Hà Nội)

Trong quá trình đào tạo một chuyên ngành bất kì, đặc biệt trong quá trình hội nhập quốc tế hiện nay, khi ngoại ngữ đóng vai trò ngày càng quan trọng trong giao lưu và chuyển giao công nghệ, điều kiện thiết yếu để nắm vững chuyên môn của chuyên ngành nhất định là nắm vững ngôn ngữ chuyên ngành trên cơ sở văn bản khoa học và ngôn từ khoa học trong giao tiếp. Mỗi cán bộ trẻ trên cương vị công tác chuyên môn cần biết cách đọc nhanh và hiểu nhanh văn bản khoa học theo chuyên ngành của mình và chuyển tải nội dung khái quát của văn bản ở dạng nói hoặc viết, biết cách thảo luận một cách tự nhiên và hiểu biết về các chủ đề chuyên môn, cũng như cần biết cách tạo lập văn bản theo phong cách ngôn ngữ và thể loại văn bản trong khuôn khổ nắm vững chuyên môn của mình. Có thể nói rằng, các kĩ năng trên là một bộ phận quan trọng trong quá trình đào tạo cán bộ khoa học.

Trong quá trình đào tạo và tự đào tạo, cùng với toàn bộ các kiến thức về chuyên môn nhất định, người học cần nắm vững một lượng tối thiểu các kiến thức về lí luận và thực hành phong cách ngôn ngữ khoa học, cũng như ngôn ngữ chuyên ngành của mình. Hiện nay, ở Việt Nam, phong cách ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ chuyên ngành còn chưa được giảng dạy trong hầu hết các cơ sở đào tạo như một môn học chính khóa. Vấn đề này sẽ trở nên phức tạp hơn nhiều khi công việc cần đến ngoại ngữ chuyên ngành, khi người làm chuyên môn cần nắm vững chuyên ngành của mình bằng tiếng nước ngoài và chuyển dịch được các kiến thức về chuyên ngành đó sang tiếng Việt một cách chính xác và đầy dủ.

Cơ sở để nắm vững ngôn ngữ chuyên ngành cụ thể trong giao tiếp và tiếp nhận văn bản khoa học là phong cách ngôn ngữ khoa học. Trong hệ thống các phong cách ngôn ngữ chức năng tiếng Việt, phong cách ngôn ngữ khoa học chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Có thể nói rằng phong cách ngôn ngữ khoa học, ở dạng nói cũng như viết, hoạt động dưới dạng đặc thù của ý thức xã hội và tư duy một cách khách quan và khoa học dựa trên hệ thống các kiến thức cụ thể về con người, về xã hội và về thế giới vật chất. Phong cách ngôn ngữ khoa học và ngôn ngữ khoa học cụ thể tạo nên thế giới ngôn ngữ khác so với thế giới ngôn ngữ của khẩu ngữ tự nhiên. Mỗi khoa học cụ thể như toán học, sinh học, xã hội học, luật học v.v. đều tạo nên bức tranh riêng biệt về thế giới khoa học của mình và thể hiện sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ cũng như kiểu loại văn bản khoa học nhất định một cách đặc thù.

Ngoài những đặc trưng riêng biệt, phong cách ngôn ngữ khoa học thể hiện hàng loạt đặc điểm chung đối với tất cả các lĩnh vực khoa học khác nhau. Không phụ thuộc vào đối tượng mô tả, vào kiểu tư duy hoặc phương pháp nghiên cứu, phong cách ngôn ngữ khoa học được đặc trưng bởi các dấu hiệu ngoại ngôn ngữ như tính chính xác, trừu tượng, lôgíc và khách quan (theo M.N.Kozưna). Các đặc trưng này của phong cách ngôn ngữ khoa học ở các mức độ khác nhau được thể hiện cả trong các phong cách ngôn ngữ chức năng khác như hành chính – công vụ, chính luận – báo chí và thậm chí trong hàng loạt cách diễn trong khẩu ngữ tự nhiên. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng các dấu hiệu ngoại ngôn ngữ đã nêu đều cần thiết và bắt buộc đối với việc tạo lập văn bản khoa học và giao tiếp trong lĩnh vực khoa học.

Việc nghiên cứu phong cách ngôn ngữ khoa học và các phương tiện ngôn ngữ kèm theo được thực hiện trong giao tiếp khoa học, trước hết, dựa trên cơ sở của sự chọn lựa. Việc chọn lựa này được thực hiện một cách liên tục, bởi văn bản khoa học là đối tượng chính trong hoạt động của quá trình đào tạo và tự đào tạo. Văn bản khoa học là kiểu văn bản đặc thù với hàng loạt hạn chế có tính nguyên tắc về từ vựng – ngữ nghĩa, với ngữ pháp đặc trưng và các dấu hiệu riêng về cấu trúc, thể loại v.v. Xét về mặt chức năng ngôn ngữ, văn bản khoa học khác với các thể loại văn bản hành chính và văn học về sự lựa chọn các phương tiện biểu đạt văn bản. Văn bản khoa học sử dụng tích cực các dạng thức và thủ thuật tư duy đặc biệt như loại suy và giả định, các công thức và hình vẽ mô tả. Có thể thấy rằng văn bản khoa học tuân thủ sự lựa chọn theo trình tự: S (chủ thể giao tiếp) – O (đối tượng mô tả) – R (địa chỉ giao tiếp). Ở đây, nhân tố chủ thể phần lớn xác định tổ chức tình thái của văn bản khoa học; nhân tố đối tượng mô tả thể hiện nội dung thông tin khoa học bao gồm cấu tạo của văn bản và sự lựa chọn các phương tiện ngôn ngữ đặc thù; nhân tố địa chỉ giao tiếp được phản ánh qua việc lựa chọn các dạng thức, thể loại văn bản và phong cách ngôn ngữ. Một văn bản khoa học bất kì đều có thể hàm chứa các yếu tố mang tính hội thoại công khai và tiềm ẩn. Như vậy, các thể loại văn bản, sự đa dạng về nội dung và phong cách ngôn ngữ của văn bản phụ thuộc vào nội dung giao tiếp chủ yếu của văn bản.

Vấn đề chủ yếu trong chọn lựa là mô tả khoa học. Trên thực tế, văn bản khoa học được tạo lập bởi một số hạn chế ngôn ngữ như cấu tạo chủ yếu bởi các danh từ, sử dụng từ loại ngôi thứ I số nhiều (chúng tôi, chúng ta), vô nhân xưng, bị động v.v. Sự chọn lựa được thực hiện trong việc sử dụng nhiều danh từ, cụm danh từ và ngữ định danh. Có thể nhận thấy rõ rằng chiếm tần số cao trong các văn bản khoa học là các từ và cụm từ mang nghĩa trừu tượng, danh động từ, trong đó số lượng các phương tiện liên kết cú pháp tăng một cách đáng kể.

Đặc biệt quan trọng đối với giao tiếp khoa học là thuật ngữ chuyên ngành đòi hỏi các kiến thức về chuyên môn và nỗ lực đặc biệt của độc giả để có thể đọc và hiểu văn bản theo chuyên ngành nhất định. Sự chọn lựa được thể hiện ở việc cần thiết sử dụng các đoản ngữ đã được thuật ngữ hóa trong các văn bản khoa học. Như vậy, lựa chọn đúng các phương tiện ngôn ngữ cần thiết là điều kiện để tạo lập văn bản khoa học, và rộng hơn là điều kiện hoạt động của phong cách ngôn ngữ khoa học.

Vấn đề quan trọng nhất để tổ chức ngôn từ khoa học và văn bản khoa học là tính hệ thống, là sự tổ chức toàn diện các phương tiện ngôn ngữ để tạo nên bức tranh thế giới có tính khoa học. Có thể nhận thấy rằng tính hệ thống được thể hiện trong mỗi phong cách chức năng của ngôn ngữ. Theo M.N.Kozưna, phong cách ngôn ngữ được tạo thành chính bởi hệ thống các phương tiện liên kết, trong tổng thể xác định các đặc trưng cho dạng lời, tạo ra đặc tính mà chúng ta cảm nhận theo trực giác, ví dụ như phong cách ngôn ngữ khoa học, phong cách ngôn ngữ hành chính, phong cách ngôn ngữ báo chí v.v. Tuy nhiên, không ở đâu, không trong bất kì phong cách ngôn ngữ nào mà tính hệ thống được thể hiện rõ nét và nghiêm ngặt như trong phong cách ngôn ngữ khoa học. Tính hệ thống của việc chọn lựa và tổ chức các phương tiện ngôn ngữ trong ngôn ngữ khoa học hoàn toàn tương ứng với các dấu hiệu ngoại ngôn ngữ của tính chính xác, trừu tượng, lôgích và khách quan. Do chịu các hạn chế theo truyền thống về việc sử dụng các phương tiện xúc cảm và biểu cảm, về lựa chọn các phương tiện hình thái và cú pháp, ngôn từ khoa học phải loại bỏ nhiều khả năng của ngôn ngữ toàn dân để tuân thủ tính hệ thống, lôgích rành mạch và chính xác nghiêm ngặt.

Trong văn bản khoa học, mối quan hệ của các yếu tố được thể hiện một cách rõ ràng, từ được lặp lại, trật tự từ trung hòa, tính chuẩn mực về cấu trúc ngữ nghĩa, kết cấu và các đặc trưng khác của văn bản hoàn toàn tương ứng với các yêu cầu về tính hệ thống của một văn bản khoa học và chỉ thay đổi khi có yêu cầu của các khoa học riêng biệt.

Trong các cơ sở đào tạo và nghiên cứu thuộc khối các lĩnh vực khoa học và công nghệ, ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ chuyên ngành. Cán bộ giảng dạy tiếng Anh hoặc ngoại ngữ tại các cơ sở đào tạo nói trên không chỉ đơn giản nghiên cứu phong cách ngôn ngữ khoa học, mà là nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành.

Nghiên cứu ngôn ngữ chuyên ngành là quá trình thực hành phong cách ngôn ngữ khoa học trong hệ thống sử dụng lĩnh vực kiến thức nhất định và chuyên ngành cụ thể. Trong lĩnh vực phương pháp luận nói riêng, đây là lĩnh vực dạy ngoại ngữ đảm bảo giao tiếp khoa học học đường và chuyên môn khi lĩnh hội các kiến thức chuyên ngành tại cơ sở đào tạo bằng ngôn ngữ được học.

Đối tượng chủ yếu của quá trình dạy và học ngôn ngữ chuyên ngành là văn bản khoa học mà người học cần có kĩ năng đọc, hiểu, tái tạo và tạo lập. Vì vậy, vấn đề thực hành văn bản khoa học bao giờ cũng được bắt đầu từ phương pháp dạy và đọc hiểu. Một điều quan trọng khác về nắm vững ngôn ngữ chuyên ngành là khả năng nghe bài giảng hoặc nghe hiểu một vấn đề. Các kĩ năng đọc và nghe hiểu trong các lĩnh vực khoa học luôn mở ra con đường tiến tới nắm vững ngôn ngữ độc thoại và hội thoại chuyên ngành.

Tài liệu tham khảo

1. Беляева Л.Н. Теория и практика перевода. Санкт-Петербург, 2003.

2. Волхова З.Н. Научно-технический перевод. М., 2000.

3. Жукова В.В. К вопросу об интенсификации процесса обучения взрослых иностранному языку (на материале английского языка). – с.291 – 303.//Функциональные стили и преподавание иностранных языков. Отв. ред. М.Я. Цвиллинг. М., Наука, 1982. – 360 с.

4. Метс Н.А. Особенности синтаксиса научного стиля речи и проблемы обучения иностранных учащихся. М., МГУ, 1979.

5. Митрофанова О.Д. Научный стиль речи: проблемы обучения. М., 1985.

6. Основы научной речи. Под ред. В.В.Химика, Л.Б.Волковой. М. – СПб, 2003, с.5.

7. Федоров А.В. Основы общей теории перевода. М., “Высшая школа”, 1983.

8. Дао Хонг Тху. Характерные особенности перевода научного текста эпохи межъязыковой коммуникации – Прикладная лингвистика: новый век. Сб. научно-методических статей, вып.1, С-Петербург, 2006, с.48-55.

9. Nguyễn Hữu Quỳnh. Tiếng Việt hiện đại. Hà Nội, Trung tâm biên soạn Bách khoa Việt Nam, 1994.

10. Nguyễn Kim Thản và những người khác. Tiếng Việt trên đường phát triển. NXB KHXH, 1982.

11. Trần Ngọc Thêm. Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 1992.

12. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ. TT, nxb. KHXH, Hà Nội, 1984.

13. Ngôn ngữ và văn hóa – 990 năm Thăng Long – Hà Nội// Kỷ yếu hội thảo của Hội Ngôn ngữ Hà nội và Khoa Ngôn ngữ ĐHKHXH&NV, Hà nội, 2000.

14. Đào Hồng Thu. Một số vấn đề của tiếng Việt trong khoa học// Ngôn ngữ và Đời sống, Hội Ngôn ngữ học Việt Nam, số 11/2004.

Advertisements

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Phát triển ngôn ngữ khoa học – công nghệ trong giai đoạn Việt Nam hội nhập toàn cầu – Hiện trạng và giải pháp

Posted by daothu09 on August 22, 2009

28 = Bai bao NNT 2004-0528 = Bai bao NNT 2004-05 (1)28 = Bai bao NNT 2004-05 (2)

 

Dr. Đào Hồng Thu; 

Nguyễn Thị Quỳnh Giang, D02-K46                                             

Đại học Bách khoa Hà Nội  

Bài báo đề cập đến vấn đề phát triển ngôn ngữ khoa học chuyên ngành, cụ thể là ngôn ngữ khoa học và công nghệ trong giai đoạn Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước. Ngôn ngữ khoa học – công nghệ được đề cập trong khuôn khổ bài báo là tiếng Việt khoa học – công nghệ trong mối quan hệ với một ngoại ngữ chuyên ngành cụ thể là tiếng Anh kỹ thuật.

I. Ngôn ngữ khoa học – công nghệ và sự phát triển quốc gia

Qua nghiên cứu vai trò của tiếng Việt trong quá trình giao lưu quốc tế hiện nay, chúng tôi thấy rằng tiếng Việt ngày càng được chú trọng trong lĩnh vực giáo dục. Tuy nhiên, có một thực tế không thể bỏ qua là việc tiếp nhận và sử dụng tiếng Việt, ngôn ngữ mẹ đẻ của mình, của sinh viên các trường đại học và cao đẳng kỹ thuật, dạy nghề còn tồn đọng nhiều vấn đề cần được giải quyết. Một tâm lý trong sinh viên các trường kỹ thuật cần được quan tâm và điều chỉnh là chỉ cần chú ý đến chuyên môn, không cần chú ý đến ngôn ngữ biểu đạt nội dung chuyên môn. Điều này được minh chứng bởi thực tế quá trình học tập và kết quả về môn học tiếng Việt của đại đa số sinh viên các trường kỹ thuật ngay từ khi ngồi trên ghế nhà trường. 

Có thể khẳng định rằng việc sử dụng ngôn ngữ trong giáo dục là một bước cơ bản cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa trong một quốc gia bởi vì trong quá trình phát triển về mọi phương diện của một quốc gia, ngôn ngữ luôn đóng vai trò rất quan trọng, thậm chí là nhân tố quyết định đảm bảo sự ổn định và tiến bộ của quốc gia đó. Ngôn ngữ chính là nhân tố thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, góp phần vào việc nâng cao thu nhập quốc gia và cá nhân. Khả năng sử dụng ngôn ngữ, mà chủ yếu là ngôn ngữ kỹ thuật, trở thành điều kiện chủ yếu và cấp thiết trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước để tiến tới hội nhập khu vực và toàn cầu hiện nay, bởi vì chuyển giao công nghệ tiên tiến đòi hỏi lực lượng chuyên gia Việt Nam sử dụng thành thạo ngôn ngữ nước ngoài, đặc biệt là tiếng Anh, và ngôn ngữ mẹ đẻ thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nhiều trường hợp đã cho thấy rằng do thiếu kiến thức về ngôn ngữ chuyên ngành và văn hóa ngành nghề nhiều đơn vị kinh tế trong và ngoài nước đã và đang phải chịu những tổn thất to lớn. Ví dụ, lao động Việt Nam và Indonesian tại Malysia đã đánh nhau do bất đồng ngôn ngữ, hậu quả là 29 lao động Việt Nam và 4 lao động Indonesian đã bị cảnh sát Malaysia bắt giữ (theo báo Lao động Thủ đô tháng 11/2003); nông dân Việt Nam trồng lúa còn theo phương pháp cũ, lạc hậu do không được hướng dẫn tốt phương pháp trồng lúa hiện đại (theo báo Lao tháng 11/2003); một công ty tàu biển nước ngoài thuê thuyền viên Việt Nam đã phải quay lại bến cũ và chịu tổn thất của chuyến đi do trình độ ngôn ngữ thấp kém của các thuyền viên dẫn đến việc không đảm bảo chất lượng công việc (theo báo Lao động tháng 11/2003) và v.v.    

Trong giai đoạn hội nhập khu vực và toàn cầu của Việt Nam hiện nay, điều tiên quyết là cần coi trọng việc phát triển ngôn ngữ, đặc biệt là ngôn ngữ khoa học và công nghệ, cụ thể là tiếng Việt khoa học – công nghệ trong mối quan hệ với một ngoại ngữ chuyên ngành là tiếng Anh kỹ thuật. Một trong những hoạt động có thể mang lại hiệu quả cho quá trình hội nhập hiện nay là nghiên cứu và sàng lọc những từ vay mượn của tiếng Anh. Đây cũng là vấn đề chủ yếu của bài báo và sẽ được chúng tôi đề cập đến một cách cụ thể hơn trong phần II dưới đây. Và chúng tôi cho rằng quan tâm đến ngôn ngữ khoa học – công nghệ như một thực thể của quốc sách hàng đầu của quốc gia sẽ tạo được vị thế mới cho tiếng Việt khoa học – công nghệ, góp phần tăng sức cạnh tranh của Việt Nam trong quá trình hội nhập toàn cầu và giao lưu quốc tế hiện nay.     

II. Giải pháp đầu cho việc phát triển ngôn ngữ khoa học – công nghệ trong giai đoạn Việt Nam hội nhập toàn cầu

Trong giai đoạn phát triển xã hội mang tính chất toàn cầu hóa như hiện nay, ngôn ngữ khoa học – công nghệ, ở đây chúng tôi cụ thể hóa là tiếng Việt khoa học – công nghệ trong mối quan hệ với tiếng Anh kỹ thuật, có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước theo Nghị quyết IX của Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam với gần 80% dân số là cư dân nông nghiệp. Vai trò đặc biệt quan trọng của ngôn ngữ khoa học – công nghệ này được thể hiện trong việc tạo lập các hệ thống thuật ngữ khoa học vay mượn từ các ngoại ngữ khác nhau trong đó có tiếng Anh kỹ thuật ở các cấp từ phổ thông đến đại học và phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học trong cộng đồng người sử dụng. Chúng tôi thấy cần khẳng định rằng từ khi Việt Nam bắt đầu chuẩn bị hội nhập quốc tế và phát triển kinh tế trí thức, việc tạo lập các hệ thống thuật ngữ khoa học vay mượn đã có những thành công đáng kể trong việc đặt nền móng cơ sở cho chuyển giao khoa học và công nghệ, cho việc cải tạo và phát triển một nền nông nghiệp trở thành hiện đại và tiên tiến ở nước ta; trong việc tham gia vào vào việc soạn thảo các chương trình, dự án các cấp mà điển hình nhất là các chương trình về công nghệ thông tin. Tuy nhiên, ngôn ngữ khoa học – công nghệ nói chung và các hệ thống thuật ngữ khoa học vay mượn nói riêng gặp không ít thử thách do những yếu tố kinh tế – xã hội của quá trình hội nhập và giao lưu quốc tế tác động đồng thời tích cực và tiêu cực vào sự phát triển của tiếng Việt hiện đại, trong đó có ngôn ngữ khoa học – công nghệ.

Thực tế trên đã dẫn đến những nghiên cứu để tìm được giải pháp cho việc phát triển ngôn ngữ khoa học – công nghệ ở Việt Nam của chúng tôi. Các điều tra về hoạt động của thuật ngữ khoa học vay mượn đã được tiến hành chủ yếu đối với sinh viên các khối kỹ thuật. Để tham khảo, xin giới thiệu một trong số các điều tra đã được tiến hành đối với sinh viên khối A (các khối khoa học kỹ thuật – công nghệ) trường Đại học Bách khoa Hà Nội.

Điều tra về Thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật

Sinh viên khối A trường Đại học Bách khoa Hà Nội là sinh viên khối khoa học kỹ thuật – công nghệ. Các bạn chính là những người tiếp cận với văn bản khoa học kỹ thuật nhiều nhất. Đa số các văn bản loại này có nguồn gốc là sách nước ngoài nên các bạn thường gặp trở ngại trong việc đọc, hiểu và dịch, nhất là các thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật.

Thuật ngữ kỹ thuật là từ, ngữ biểu đạt các khái niệm chuyên môn thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật và công nghệ.

Các thuật ngữ bao gồm thuật ngữ được Việt hóa và thuật ngữ chưa được Việt hóa (gọi tắt là từ, ngữ vay mượn). Ví dụ, các thuật ngữ đã được Việt hóa như: máy vô tuyến truyền hình, chuột (máy tính), máy vi tính v.v., các thuật ngữ chưa được Việt hóa (từ, ngữ vay mượn) như: transitor, rotor, stator, chip, RAM, ROM v.v. đều được dùng để chỉ khái niệm, chi tiết, thiết bị, quá trình v.v.

Với mục đích sinh viên Đại học Bách khoa Hà Nội tương trợ lẫn nhau và giúp nhau cùng hiểu và sử dụng các thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật cho đúng, sinh viên khối D Đại học Bách khoa Hà Nội tiến hành khảo cứu thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật này. Chúng tôi mong nhận được sự trợ giúp của các bạn khối A trong trường để chúng tôi hoàn thành bản điều tra. Xin chân thành cảm ơn.

Xin các bạn vui lòng đánh dấu (x) vào các ô lựa chọn phù hợp của các bạn và trả lời vào các chỗ trống sau:

1. Trong quá trình học chuyên ngành của bạn, bạn thấy số lượng các thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật là

 Rất nhiều (70% – 90%)                          Trung bình (30% – 50%)

— Nhiều (50% – 70%)                                           Ít (< 30%)

Trong đó: Số lượng thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật đã được Việt hóa là:

 Rất nhiều (70% – 90%)                          Trung bình (30% – 50%)

— Nhiều (50% – 70%)                                           Ít (< 30%)

Số lượng thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật chưa được Việt hóa (vay mượn) là:

 Rất nhiều (70% – 90%)                          Trung bình (30% – 50%)

— Nhiều (50% – 70%)                                           Ít (< 30%)

2. Theo bạn, các thuật ngữ dễ đọc là:

‘ Thuật ngữ đã được Việt hóa

“ Thuật ngữ chưa được Việt hóa (từ, ngữ vay mượn)

‘ Loại khác mà bạn thấy (Nêu tên …………………………………………)

3. Bạn dùng từ, ngữ vay mượn vì lý do gì?

‘ Dùng theo sách và giáo viên

“ Trong quá trình học, tự dùng cho tiện

‘ Để chứng tỏ mình am hiểu ngành học

4. Các cách chuyển dịch thuật ngữ tiếng Anh mà bạn thấy là:

‘ Phiên âm sang tiếng Việt

“ Tạo ra cụm danh từ tiếng Việt có nghĩa tương đương

‘ Các cách khác mà bạn biết (Nêu tên …………………………)

5. Theo bạn, dùng từ, ngữ vay mượn có thuận lợi gì?

‘ Nhanh gọn, dễ nhớ

“ Dễ bao quát khái niệm, tránh giải thích rườm rà

‘ Tiện trong soạn thảo văn bản

‘ Thuận lợi khác mà bạn thấy (Nêu tên ………………………)

6. Theo bạn, dùng từ, ngữ vay mượn có khó khăn gì?

‘ Khó đọc

“ Đôi khi cứ dùng mà không hiểu nghĩa

‘ Từ, ngữ vay mượn bị biến đổi so với nghĩa gốc trong từ điển

‘ Khó nhận biết phiên âm

‘ Khó khăn khác mà bạn thấy (Nêu tên ………………………)

7. Từ, ngữ vay mượn hay được dùng

‘ Trong khi giáo viên giảng bài (cho ngắn gọn)

“ Trong sách học và tài liệu tham khảo

8. Kể tên các loại sách bạn học và tham khảo có sử dụng thuật ngữ tiếng Anh kỹ thuật đã chuyển dịch hoặc chưa chuyển dịch sang tiếng Việt

STT

TÊN SÁCH

TÁC GIẢ

NHÀ XUẤT BẢN

       
       

9. Nêu các từ, ngữ vay mượn mà bạn biết:

STT

TỪ, NGỮ VAY MƯỢN MÀ BẠN BIẾT

NGHĨA TƯƠNG ĐƯƠNG

     
     

Với một loạt kết quả điều tra, chúng tôi thấy rằng giải pháp đầu cho việc phát triển ngôn ngữ khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay có thể là quy hoạch tổng thể toàn bộ các hệ thống thuật ngữ khoa học – công nghệ, ưu tiên các hệ thống thuộc các chuyên ngành thiết yếu, phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước. Theo nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng đối với mỗi chuyên ngành cụ thể, số lượng thuật ngữ có thể bao gồm từ 250 đến 300 đơn vị.

Để có thể thực hiện được mục tiêu đề ra, có thể tiến hành:

1. Nghiên cứu và đề ra các phương thức nhận biết và sử dụng các thuật ngữ Hán – Việt trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác nhau.

2. Nghiên cứu và đề ra các chuẩn chung trong việc chuyển dịch tương đương từ tiếng Anh sang tiếng Việt thuật ngữ khoa học đối với cùng một hiện tượng, một sự vật, một quá trình và v.v. trong cùng một lĩnh vực chuyên ngành, bởi rằng thuật ngữ khoa học chỉ chứa đựng một nghĩa và nhằm giúp người học tiếp nhận chuyên môn của mình dễ dàng hơn.

3. Nghiên cứu và đề ra các chuẩn chung đối với việc sử dụng từ, ngữ vay mượn trong khoa học – công nghệ. Nghiên cứu cho thấy rằng số lượng thuật ngữ khoa học vay mượn (chủ yếu từ tiếng Anh) dùng sai do không hiểu nghĩa là khá phổ biến. Sử dụng không chính xác thuật ngữ khoa học vay mượn từ ngôn ngữ nước ngoài thể hiện ngay cả khi người sử dụng không xác định được thuật ngữ khoa học vay mượn mà họ đang sử dụng là đúng hay sai. Trong quá trình hội nhập toàn cầu và giao lưu quốc tế như hiện nay ở Việt Nam, việc sử dụng các biến dị thể của thuật ngữ khoa học vay mượn đang là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm đặc biệt và sớm có giải pháp, bởi do điều này dẫn tới sự chệnh hướng phát triển về khoa học và công nghệ, đặc biệt là khoa học kỹ thuật và công nghệ.

4. Việt hóa tối ưu và tối đa thuật ngữ khoa học phổ biến trong một số ngành khoa học và công nghệ mũi nhọn, đặc biệt là công nghệ thông tin. Theo nghiên cứu, số lượng thuật ngữ khoa học tiếng Anh chiếm tỷ lệ rất lớn trong các văn bản thuộc các lĩnh vực khoa học và công nghệ khác nhau. Trong đó, lượng thuật ngữ khoa học vay mượn từ tiếng Anh là khá nhiều và gây cản trở trực tiếp cho việc tiếp nhận kiến thức chuyên ngành của đông đảo những người cần các thông tin về khoa học và công nghệ.

Ở đây, chúng tôi cho rằng sự xuất hiện của các biến thể trong tiếng Việt làm nẩy sinh những tranh chấp mới và nhiều khi rất gay gắt giữa các xu hướng Việt hóa và quốc tế hóa chứa đựng tính tất yếu trong tiến trình phát triển xã hội loài người hiện nay, tuy nhiên, để giữ gìn bản sắc ngôn ngữ dân tộc, cần có giải pháp cụ thể để môi trường ngôn ngữ dân tộc không bị ô nhiễm.

Cuối cùng, có thể khẳng định rằng vai trò của ngôn ngữ khoa học – công nghệ đối với quá trình hội nhập khu vực và toàn cầu của Việt Nam là cực kỳ to lớn. Ngôn ngữ khoa học – công nghệ đóng góp trực tiếp vào những tiến bộ của khoa học, kỹ thuật và công nghệ hiện đại. Ngôn ngữ khoa học và công nghệ cần được coi là cơ sở phát triển động lực của xã hội hiện đại và cần được nghiên cứu một cách hệ thống, bởi do trước sự phát triển mới của xã hội hiện đại sẽ có sự phát triển mới về cấu trúc và chức năng của ngôn ngữ nói chung, của ngôn ngữ khoa học và công nghệ nói riêng, và sự cần thiết phải nghiên cứu, sử dụng và phát triển một cách có hệ thống theo qui luật phát triển của tự nhiên và xã hội.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Những vấn đề văn hóa, văn học và ngôn ngữ học – Nxb.KHXH, 1999.

2. Tạp chí Courie – tháng 11 năm 1991, tháng 2 năm 2000.

3. Trần Ngọc Thêm. Tìm về bản sắc Việt Nam – nxb.tp Hồ Chí Minh, 1996.

4. Adams V. An Introduction to Modern English Word-Formation – London, 1973. 

5. Akhmanova Olga. Linguistic Terminology. – M. 1977. 

6. Stevens Peter. Teaching English as an International Language – Pergamon Institute of English, 1980.  

7. Trimble Louis, Trimble Mary Todd and Drobric Karl [eds]. English for Specific Purposes: Science and Technology. – English Language Institute, Oregon State University, 1978.

8. Đào Hồng Thu. Về vấn đề ngôn ngữ và văn hóa trong môi trường đào tạo các khối ngành công nghệ và kỹ thuật. – Tuyển tập Công trình khoa học năm 2001, Đại học Bách khoa Hà Nội.

9. Các khảo sát, điều tra về ngôn ngữ khoa học – công nghệ. 

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Một số vấn đề của tiếng Việt trong khoa học

Posted by daothu09 on August 21, 2009

26 = Bai bao TC 11-200426 = Bai bao TC 11-2004 (1)

Đào Hồng Thu

(TS, ĐHBK Hà Nội)

 Hiện nay, ngôn ngữ trong các lĩnh vực khoa học (được gọi tắt là ngôn ngữ khoa học) ngày càng trở nên thiết yếu đối với sự phát triển của một quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế và tiến trình phát triển của xã hội loài người.

Theo A.I.Pumpjanski, chỉ báo ngôn ngữ đặc trưng nhất của thời đại phát triển loài người hiện nay là ngôn ngữ khoa học và phong cách chức năng của nó trong văn bản khoa học. Phạm vi sử dụng của ngôn ngữ khoa học và phong cách chức năng của nó được mở rộng tỉ lệ với nhịp độ tăng trưởng của tiến bộ khoa học – kĩ thuật. Hiện nay, việc mô tả các hệ thống ngôn ngữ hiện đại không còn có ý nghĩa nếu không tính đến ngôn ngữ khoa học và vai trò của nó trong cuộc sống xã hội hiện đại [8].

Tiếng Việt như là một ngôn ngữ luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội Việt Nam, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ của các tiến trình phát triển của Việt Nam. Tiếng Việt trong các lĩnh vực của khoa học (được gọi tắt là tiếng Việt khoa học) là yếu tố đặc biệt quan trọng cần được hình thành và phát triển mạnh trong giai đoạn hiện nay. Trong khuôn khổ bài báo, vấn đề được đề cập là tiếng Việt khoa học cho sinh viên và học sinh.

Chúng ta thấy rằng đã có nhiều bài báo, các công trình nghiên cứu về tầm quan trọng, chức năng và sự phát triển của tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, đặc biệt là trong văn học – nghệ thuật và văn hóa – xã hội. Trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX đã có những bài báo đề cập đến chức năng và tầm quan trọng của nó như “Tiếng Việt trong khoa học cơ bản” (Ngụy Như Kontum), “Xây dựng thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt” (Lê Khả Kế), “Dùng tiếng Việt trong các ngành khoa học kĩ thuật ở trường Đại học Bách khoa Hà Nội” (Phạm Đồng Điện) và v.v. [1]

Các công trình nghiên cứu cho thấy ngôn ngữ dân tộc phản ánh rất rõ nét tiến trình phát triển xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Với một nền khoa học kĩ thuật non trẻ thời ban đầu những năm 60, tiếng Việt trong khoa học kĩ thuật nghiên cứu và sử dụng mới chỉ ở dạng các thuật ngữ chuyên ngành với một số từ điển thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật.

Vấn đề tiếng Việt khoa học cho đến nay chủ yếu là do các nhà lãnh đạo hoặc quản lí khối ngành khoa học đề cập tới. Trong những năm 60, các nhà khoa học thuộc khối khoa học kĩ thuật đã sử dụng thuật ngữ “tiếng Việt trong khoa học cơ bản” (Ngụy Như Kontum), “tiếng Việt trong các ngành khoa học kĩ thuật” (Phạm Đồng Điện), “Thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt” (Lê Khả Kế). Trong tuyển tập “một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam” (Nhà xuất bản ĐH và THCN, Hà Nội, 1981), tác giả bài “Lược thuật hội nghị ngôn ngữ học trong các trường đại học” Nguyễn Khắc Thi đã sử dụng thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học kĩ thuật” ….

Trong tất cả các loại từ điển tiếng Việt cho đến năm 2003 chưa có định nghĩa cho thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học”, mặc dù đã có định nghĩa cho ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh và v.v. Để dẫn nhập các khái niệm “ngôn ngữ khoa học” và “tiếng Việt khoa học”, cần xuất phát từ các định nghĩa về ngôn ngữ và tiếng Việt một cách khái quát. Ở đây, chúng tôi trình bày cụ thể các định nghĩa trong ba loại từ điển điển hình tại các thời kì phát triển xã hội khác nhau:

* Từ điển Việt Nam phổ thông. Đào Văn Tập, nhà sách Vĩnh Bảo – Sài Gòn, 1951.

– Ngôn ngữ : Nói năng (khoa ngôn ngữ)

– Tiếng : 1. Âm thanh phát ra (tiếng động, tiếng đàn)

              2. Ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga)

              3. Lời phê bình của công chúng (tiếng hay, tiếng xấu)

* Từ điển tiếng Việt. Văn Tân (chủ biên), Nxb. KHXH, Hà Nội, 1991.

– Ngôn ngữ : 1. Công cụ biểu thị ý nghĩ dùng để giao tiếp giữa người và người, thực hiện nhờ hệ thống những phương tiện âm thanh, từ ngữ và ngữ pháp (Người là giống duy nhất có ngôn ngữ)

2. Cách sử dụng các chức năng nói trên, thường biểu hiện của phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa … (Phải luôn chú ý đến ngôn ngữ cử chỉ)

* Từ điển tiếng Việt. Hoàng Phê (chủ biên), Nxb.KHXH, Trung tâm Từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 2000.

Ngôn ngữ :

1. Hệ thống ngữ âm, những từ và những quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau (Tiếng Nga và tiếng Việt là hai ngôn ngữ rất khác nhau).

              2. Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo (Ngôn ngữ điện ảnh. Ngôn ngữ hội họa. Ngôn ngữ của loài ong.)

              3. Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng (Ngôn ngữ Nguyễn Du. Ngôn ngữ trẻ con. Ngôn ngữ báo chí.)

– Tiếng : 1. Cái mà tai có thể nghe được (Tiếng đàn. Tiếng cười.)

              2. Âm tiết trong tiếng Việt, là đơn vị thường có nghĩa, dùng trong chuỗi lời nói (Tiếng được, tiếng mất. Thơ lục bát gồm 14 tiếng.)

              3. Ngôn ngữ cụ thể nào đó (Tiếng Việt. Biết nhiều thứ tiếng.)

              4. Giọng nói riêng của một người hay cách phát âm riêng của một vùng nào đó (Tiếng trầm trầm. Tiếng miền Nam.)

              5. Lời nói của một cá nhân nào đó (Có tiếng người.)

              6. Lời bàn tán, khen chê, sự đánh giá trong dư luận xã hội (Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Bưởi ngon có tiếng.)

Từ đây, có thể đưa ra các khái niệm sau :

Ngôn ngữ khoa học :

1. Hệ thống các âm, các từ và các quy tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng và cùng một lĩnh vực hoạt động khoa học dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau (Tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học là ngôn ngữ khoa học.).

2. Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo (Ngôn ngữ hình học. Ngôn ngữ toán.)/

Tiếng Việt khoa học : Ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam được sử dụng trong lĩnh vực khoa học (Tiếng Việt khoa học kĩ thuật.).

Đối với Đại học Bách khoa Hà Nội, ngay từ khi thành lập trường, việc sử dụng giảng dạy bằng tiếng Việt là đương nhiên. Tuy nhiên, khó khăn là ở chỗ cơ sở của một hệ thống thuật ngữ bằng tiếng Việt gần như không có. Với một nền kĩ thuật còn lạc hậu, các thuật ngữ kĩ thuật ở giai đoạn giảng dạy đại học đầu tiên này còn ít về số lượng, thiếu khoa học về chất lượng. Phần lớn thuật ngữ kĩ thuật là từ Hán – Việt, thiếu tính chất Việt hoặc là từ tiếng Việt nhưng thiếu độ chính xác và khoa học. Bắt đầu từ năm 1965, cán bộ giảng dạy các bộ môn kĩ thuật của Trường đã làm việc hết sức mình để xây dựng được một hệ thống thuật ngữ kĩ thuật cơ bản bằng cách dựa vào bản chất từng hiện tượng, tính chất, nguyên tắc và công dụng từng thiết bị. Có thể nói rằng trong giai đoạn từ 1965 đến 1975, cán bộ khối khoa học kĩ thuật đã rất thành công trong việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ bằng tiếng Việt trong phạm vi kĩ thuật. Đây là một bước ngoặt lớn trong sự phát triển xã hội Việt Nam.

Từ 1976 đến 1990 là giai đoạn đất nước sau thống nhất. Ở giai đoạn này, biện pháp chủ yếu là chuẩn hóa tiếng Việt để phục vụ có hiệu quả cho các nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong thời kì tái thiết. Các hội nghị khoa học về ngôn ngữ đã được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt, vấn đề chuẩn hóa và thống nhất hệ thống thuật ngữ khoa học được đặc biệt chú ý. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ thị :”Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và làm cho tiếng Việt ngày càng phát triển, có khả năng thích nghi với sự phát triển của thời đại, đặc biệt là sự phát triển của khoa học và kĩ thuật.” (Trích bài phát biểu của GS.Đặng Hữu tại Hội nghị Ngôn ngữ học của ngành đại học lần I vào tháng 1 năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh). Trong giai đoạn phát triển này, vấn đề nóng bỏng được đặt ra trên phạm vi cả nước là xây dựng, thống nhất và chuẩn hóa hệ thống ngôn ngữ khoa học  và liên quan là vấn đề mượn từ và âm của các ngôn ngữ khác, trong đó có vấn đề về phiên chuyển từ ngữ khoa học nước ngoài.

Từ 1991 đến nay, cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, ngôn ngữ dân tộc bước vào giai đoạn mới. Tiếng Việt khoa học không còn dừng lại ở các thuật ngữ riêng biệt mà đã có nhiều văn bản dưới dạng bài dịch từ tiếng Anh, các báo cáo khoa học chuyên ngành. Tuy nhiên, cần phải nói rằng cách hành văn theo phong cách ngôn ngữ khoa học còn chưa được chú trọng. Các hội nghị về ngôn ngữ học ở giai đoạn này được tổ chức khá phong phú về hình thức và nội dung song chưa có những nghiên cứu đầy đủ về ngôn ngữ khoa học và tiếng Việt khoa học, chưa có giải pháp cho giáo dục ngôn ngữ khoa học và tiếng Việt khoa học trong trường phổ thông và đại học.

Theo các tác giả của cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992 thì trong vòng 5 năm, tính từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế thị trường đã xuất hiện trên 2000 đơn vị từ mới, phần nhiều có nguồn gốc vay mượn từ các tiếng nước ngoài. Theo nghiên cứu của chúng tôi, khoảng 70% đơn vị từ mới trong số đó là các thuật ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ. Và cho đến nay, lượng đơn vị từ mới là các thuật ngữ trên ngày càng gia tăng một cách đáng kể, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin.

Sự phát triển của xã hội công nghiệp đòi hỏi phát triển chức năng của ngôn ngữ dân tộc và cần tạo ra một sự đồng dạng trong hệ thống giao tiếp của các quốc gia có liên quan. Và chính xã hội công nghiệp, trong điều kiện giao lưu quốc tế rộng rãi giữa các quốc gia đang đem lại cho ngôn ngữ mỗi dân tộc những phát triển mới và những giao thoa mới. Từ đây, có thể thấy rằng tiếng Việt khoa học đóng góp trực tiếp vào những tiến bộ của khoa học hiện đại và chịu tác động to lớn của sự phát triển các ngành khoa học hiện đại.

Trong quá trình hội nhập quốc tế, việc phổ biến tiếng Việt khoa học cho sinh viên, đặc biệt là sinh viên các trường kĩ thuật, là vô cùng cần thiết. Sở dĩ chúng tôi đặt vấn đề như vậy là bởi vì thí sinh thi vào các trường kĩ thuật phần lớn không chú ý đến môn tiếng Việt ngay từ những năm học phổ thông, và bởi vì tiếng Việt khoa học và phong cách ngôn ngữ của nó không được coi như một môn học trong các trường kĩ thuật. Và như vậy, nếu nhìn từ góc độ đầu tư thì bất kì quá trình chuyển giao công nghệ nào cũng đều cần tiếng mẹ đẻ, ở đây là tiếng Việt khoa học, làm xuất phát điểm. Thậm chí có thể nhận thấy rằng tiếng Việt khoa học sẽ giúp người học, ví dụ, tiếng Anh khoa học tiếp nhận kiến thức cần thiết một cách dễ dàng hơn.

Việc phát triển và chuẩn hóa tiếng Việt khoa học là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong việc tạo lập các hệ thống thuật ngữ khoa học chuyên ngành bằng tiếng Việt khoa học (vay mượn tiếng Hán, Pháp, Anh …). Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy cần nhấn mạnh sự định hướng và tham gia một cách có ý thức của con người vào quá trình phát triển của ngôn ngữ. Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục ở các cấp từ phổ thông đến đại học, nâng cao dân trí và truyền bá các kiến thức. Để nắm vững và nâng cao kiến thức khoa học, điều tất nhiên là sinh viên cần phải có kiến thức về ngôn ngữ của khoa học, tức là tiếng Việt khoa học.

Dưới đây là các ví dụ về việc sử dụng tiếng Việt khoa học:

* Các sách có sử dụng từ và cụm từ mang yếu tố của phong cách ngôn ngữ khoa học:

– Tiếng Việt lớp 1 tập 1&2 dưới dạng các từ, câu, bài viết và thơ có liên quan đến cuộc sống hàng ngày như: cái đe, ôtô, canô, xe lu, máy bay, máy cày, nhà máy, trái đất (Tí đi ôtô. Em đi máy bay.)

– Tiếng Việt lớp 1 tập 1, lớp 3 tập 2 dưới dạng bài viết, bài thơ về ngành nghề liên quan đến khoa học kĩ thuật và công nghệ.

* Tiếng Việt khoa học được giới thiệu trong các sách giáo khoa:

– Tiếng Việt lớp 4 tập 2 dưới dạng giới thiệu một số thuật ngữ và khái niệm về khoa học và kĩ thuật.

– Tiếng Việt lớp 9 dưới dạng giới thiệu sơ lược sự phân loại và đặc điểm chung của văn bản khoa học. Phần luyện tập không có bài tập cho văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ.

– Tiếng Việt lớp 11 ở dạng giới thiệu phong cách ngôn ngữ khoa học một cách ngắn gọn (một tiết học). Phần bài tập có một câu hỏi về so sánh với phong cách ngôn ngữ chính luận.

* Một vài ví dụ về cách viết câu trong văn bản khoa học bằng tiếng Việt và dịch Anh – Việt không đúng của sinh viên thuộc khối kĩ thuật:

– Những thuận lợi của việc tạo xỉ trong lò điện hồ quang đã được chứng minh. Bao gồm các yếu tố sau: …. Sự tăng chiều dài hồ quang yếu tố đó cho phép tăng điện thế hồ quang lớn hơn, bởi vậy đưa đến hiện tại tăng khả năng di chuyển tới bể chứa, với một ít năng lượng kết hợp với tia phát xạ bị mất để bảo vệ vật liệu tới một giới hạn và che những tia phát xạ sáng rực lên và sinh ra nitơ. (Bài tập chuyên ngành).

Sự phát triển của ALARC – PC, nó là cần thiết cho sự hiểu biết cơ bản ảnh hưởng của ôxy trong đó nó được ứng dụng trong lò điện hồ quang, nguyên lí trên là nguyên lí nhiệt động học và phản ứng do động lực. (Bài tập dịch).

– Đối với quá trình cháy of than ….. (Bài tập chuyên ngành).

Ảnh hưởng chính của ôxy là có thể giải thích bằng sự cân bằng giữa O2 và Fe, FeO2, C, CO, CO2 trong chất đặc, lỏng hay pha gas, cũng như trên bề mặt giữa các pha. (Bài tập dịch).

– Tất cả các chất khi tan trong nước đều phân chia làm hai loại sau. Loại có khả năng điện phân và loại không có khả năng điện phân. (Bài tập chuyên ngành).

Các ví dụ về cách viết câu trong văn bản khoa học bằng tiếng Việt và dịch Anh – Việt không đúng như trên có thể tìm thấy rất dễ dàng trong các bài viết của sinh viên khối trường kĩ thuật.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO

 1. Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt. Nxb.KHXH, Hà Nội, 1981.

2. Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam. Nxb.ĐH&THCN, Hà Nội, 1982.

3. Nguyễn Kim Thản và những người khác. Tiếng Việt trên đường phát triển. Nxb.KHXH, 1982.

4. Trần Ngọc Thêm. Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb.Giáo dục, Hà Nội, 1992.

5. Giữ gìn sự trong sáng tiếng Việt về mặt từ ngữ. Nxb.KHXH, Hà Nội, 1984.

6. Việt ngữ học ở nước ngoài. Hà Nội, 1998.

7. Ngôn ngữ và văn hóa – 990 năm Thăng Long – Hà Nội. Kỉ yếu hội thảo của Hội Ngôn ngữ Hà Nội và Khoa Ngôn ngữ ĐHKHXH&NV, Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2000.

8. Пумпянский А.Л. Введение в практику перевода научной и технической литературы на английский язык. Москва, Наука, 1981.

9. Các sách giáo khoa tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 10.

10. Các sách giáo khoa Tập làm văn lớp 10, 11, 12.

11. Các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Tiếng Việt thực hành (chương trình dành cho đại học đại cương).

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Phong cách ngôn ngữ khoa học và công nghệ tiếng Việt và các qui tắc hoạt động của nó trên bình diện văn hóa khoa học

Posted by daothu09 on August 14, 2009

23 = Bai bao NHT 200323 = Bai bao NHT 2003 (1)23 = Bai bao NHT 2003 (2)

  TS. Đào Hồng Thu

Đại học Bách khoa Hà Nội

         I. Dẫn nhập

Trong bối cảnh phát triển xã hội hiện nay, trình độ tri thức về khoa học là thước đo chính xác và là động lực thúc đẩy tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam. Sự phát triển vô cùng nhanh chóng và rộng rãi của khoa học và công nghệ là điều kiện quan trọng cho việc hình thành và phát triển phong cách ngôn ngữ khoa học. Các thành tựu về khoa học và công nghệ trong và ngoài nước ảnh hưởng một cách trực tiếp đến văn hóa công nghiệp và văn hóa chung của xã hội hiện đại, đến trình độ kiến thức chung và kiến thức khoa học, đến tư duy và ngôn ngữ của xã hội Việt Nam. Tăng cường phát triển tư duy khoa học luôn gắn với thành tựu vĩ đại nhất của quá trình tiến hóa xã hội là ngôn ngữ. Ngôn ngữ khoa học tạo cho con người khả năng thể hiện và hiểu được những ý tưởng mới trong quá trình phát triển văn hóa và khoa học.

Để tiếp cận nhanh chóng với nền khoa học tiên tiến nhất trên thế giới và tạo động lực sáng tạo trong khoa học, cần có một hệ thống kiến thức hoàn chỉnh về ngôn ngữ khoa học chuyên ngành và phong cách biểu đạt tương ứng. Đối với khoa học ngôn ngữ hiện đại, có ý nghĩa hàng đầu là sự mô tả và biểu đạt các thuộc tính của phong cách ngôn ngữ thuộc các lĩnh vực khoa học chuyên ngành khác nhau.

Bài báo đề cập đến các nguyên tắc hoạt động của phong cách ngôn ngữ khoa học và công nghệ trên bình diện khoa học hiện đại và văn hóa khoa học với mục đích góp phần đưa ra các giải pháp rút ngắn được thời gian và tiết kiệm sức lực trong quá trình chuyển giao và phát triển các ngành công nghệ cao ở Việt Nam hiện nay.

II. Cơ sở khái niệm và các nguyên tắc hoạt động của phong cách ngôn ngữ khoa học

1. Cơ sở khái niệm

Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm về phong cách xuất hiện từ thời kỳ Hy Lạp và La Mã cổ đại cùng với sự xuất hiện của khoa học về hùng biện. Phong cách ngôn ngữ là sự kết hợp của hai nhân tố : “nói gì” và “nói như thế nào”, có nghĩa đây là sự tổng hòa các phương tiện ngôn ngữ. Cơ sở khái niệm phong cách ngôn ngữ là đánh giá quan hệ các phương tiện biểu đạt và nội dung biểu đạt.

Xét về phương diện văn hóa khoa học thì trong từng lĩnh vực hoạt động của các khoa học khác nhau, phong cách ngôn ngữ có những sắc thái biểu đạt đặc thù. Cơ sở phong cách ngôn ngữ văn bản khoa học tiếng Việt hiện đại là các chuẩn ngôn ngữ viết bằng tiếng Việt có các tính chất xác định, cụ thể là:

Từ vựng học. Sử dụng số lượng lớn các từ và thuật ngữ chuyên ngành dưới dạng từ thuần Việt hoặc vay mượn. Từ loại thường được lựa chọn rất cẩn thận để đạt nghĩa chính xác tối đa. Chiếm vị trí đáng kể là kết từ và các từ đảm bảo mối liên kết lôgích giữa các thành phần lời nói riêng biệt (trạng từ).

Ngữ pháp. Chỉ sử dụng các chuẩn ngữ pháp đã được xác định chắc chắn trong văn viết. Khác với tác phẩm văn học với nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng các nhân vật, văn bản khoa học và công nghệ có xu hướng mô tả và giải thích hiện tượng xác định một cách chính xác nhất. Vì vậy, trong văn bản khoa học và công nghệ phần lớn sử dụng các câu phức chủ động và bị động, trong đó chiếm ưu thế là danh từ, tính từ, các dạng bị động và vô nhân xưng của động từ.

Phương thức trình bày văn bản. Nhiệm vụ chính của văn bản khoa học và công nghệ là đưa được lượng thông tin nhất định đến tận người đọc một cách thật rõ ràng và chính xác. Điều này đạt được bằng cách soạn thảo văn bản có cơ sở lôgích trên thực tế, không sử dụng các từ, các thành ngữ và cấu trúc ngữ pháp mang tính biểu cảm. Phương thức tạo lập văn bản như vậy có thể gọi là phương thức trình bày lôgích.

Các đặc điểm nêu trên thường thuộc về các khoa học tự nhiên và chính xác (cũng như các lĩnh vực ứng dụng của chúng) như toán học, thiên văn học, vật lý, hóa học, địa chất, luyện kim, sinh vật học, thực vật học, động vật học, trắc địa học, khí tượng học, cổ sinh vật học, y học, điện tử học, kỹ thuật điện, kỹ thuật vệ sinh, hàng không, nông học, lâm học, hầm mỏ, quốc phòng, xây dựng, giao thông và công nghiệp hóa học, công nghệ cơ khí.

Theo R.V.Iupelta, các khoa học như kinh tế học, xã hội học, lịch sử và pháp lý không thuộc về lĩnh vực này do tính chất đặc thù của các khoa học này gần với các bộ môn khác. Đôi khi ở các giới hạn phân loại này chúng ta gặp những tác phẩm được viết ở trình độ cao về văn học (công trình của nhà sinh vật học người Anh Tr.Tomson, nhà hóa học người Pháp A.Muanxan, nhà địa chất người Nga A.E.Phecxman). Thông thường, khi chứng minh một luận điểm bất kỳ, khi minh họa một ý nghĩ nào hoặc khi tranh luận với các phản biện khoa học của mình, cách thể hiện của tác giả có thể gần với cả cách thể hiện của nhà hùng biện, của bài báo hoặc gần với ngôn ngữ một tác phẩm văn học. Tuy nhiên, các trường hợp như vậy đều không điển hình.

Phong cách ngôn ngữ văn bản khoa học và công nghệ có một vài cấp bậc. Các văn bản khoa học khác nhau không chỉ bởi lĩnh vực khoa học mà văn bản đề cập tới, mà còn bởi mức độ chuyên môn hóa của chúng. Các đặc trưng nêu trên hoàn toàn có liên quan đến các tài liệu tham khảo và các bài báo, tóm tắt và sách giáo khoa. Tuy nhiên, trong văn bản của các sách chỉ dẫn về kỹ thuật, danh mục, bảng biểu, báo cáo kỹ thuật, bản liệt kê và hướng dẫn đôi khi có thể có những câu không có vị ngữ (khi tính các số liệu về kỹ thuật và v.v.) hoặc chủ ngữ (nếu theo văn bản cụ thể). Trong các sách chỉ dẫn về kỹ thuật thường gặp nhiều đoạn văn bản chỉ là liệt kê con số. Bảng biểu, bảng liệt kê, báo cáo kỹ thuật và danh mục thường được lập theo khuôn mẫu cứng và bằng các thuật ngữ chuyên ngành. Khuôn mẫu về từ vựng – ngữ pháp cũng tồn tại trong văn bản về chứng nhận.

2. Nguyên tắc hoạt động của phong cách ngôn ngữ trong văn bản khoa học và công nghệ tiếng Việt

a) Sử dụng một lượng lớn các thuật ngữ khoa học, nghĩa là các từ hoặc cụm từ biểu đạt nghĩa của khái niệm về khoa học. Chúng ta không thể xác định được giới hạn rõ ràng giữa thuật ngữ và từ của ngôn ngữ toàn dân do sự đa nghĩa của nhiều từ. Ví dụ, các khái niệm phổ biến như điện, nhiệt độ, ô tô và các từ thường được sử dụng như nguyên tử, chất dẻo, vitamin, vũ trụ, trong ngôn ngữ toàn dân là nơi mà các thuật ngữ khoa học chỉ đóng vai trò thứ yếu (phụ thuộc), không phải là các thuật ngữ. Mặt khác, những từ đơn giản như nước, trái đất, lửa, chất lỏng, lực, bạc, áp suất lại là thuật ngữ trong văn bản khoa học cụ thể.

Hệ thống hóa các thuật ngữ tiếng Việt khoa học và công nghệ cơ bản thường gặp khó khăn do cùng một thuật ngữ có ý nghĩa khác nhau trong các lĩnh vực khác nhau của khoa học hoặc thậm chí trong các giới hạn của một lĩnh vực (ví dụ, trong lĩnh vực công nghiệp than tồn tại hơn 6 000 tên gọi cho 300 ngành nghề cơ bản), cũng như bởi sự xuất hiện số lượng lớn các thuật ngữ mới.

b) Trong tiếng Việt còn sử dụng nhiều thuật ngữ và cấu trúc vay mượn, trong đó có cả đồng nghĩa về từ vựng : cùng một khái niệm có thể được biểu đạt bằng các từ khác nhau, chủ yếu là các từ có nguồn gốc Latinh (Pháp), Anglơ Xăcxông (Anh) hoặc Slavơ (Nga). Theo nghiên cứu của chúng tôi, trong các văn bản khoa học và công nghệ, trong đó chủ yếu là văn bản khoa học kỹ thuật, tiếng Việt chịu ảnh hưởng rất lớn của các ngôn ngữ nước ngoài nêu trên, đặc biệt là trong các văn bản dịch do các tác giả dịch đã chuyển dịch sang tiếng Việt các cấu trúc mang nhiều sắc thái của ngôn ngữ ban đầu hơn là thuần Việt (ví dụ, trong các văn bản khoa học công nghệ thông tin : mouse – chuột, computer – máy tính, keyboard – bàn phím hoặc cách dịch các cấu trúc bị động như từ tiếng Nga sang tiếng Việt).

c) Trong văn bản khoa học và công nghệ, cá nhân tác giả lùi xuống vị trí thứ hai còn tên gọi sự vật, quá trình v.v. được chuyển lên vị trí thứ nhất do vấn đề được quan tâm là các hiện tượng cụ thể cần mô tả và giải thích. Ngoài ra, trong văn bản khoa học hiện đại, nội dung thường được truyền đạt bởi các cấu trúc vô nhân xưng dạng : cần phải, không được, nên v.v. Do vậy, có thể nói rằng, văn bản khoa học và công nghệ có phương thức biểu đạt nội dung trung lập hoặc có phong cách trung lập. Tác giả có xu hướng loại bỏ khả năng lý giải võ đoán bản chất sự vật. Vì vậy, trong văn bản khoa học và công nghệ hầu như không sử dụng các phương tiện biểu cảm như ẩn dụ, hoán dụ và v.v., và sự biểu đạt văn bản mang đôi chút đặc tính hình thức, khô khan.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đinh Trọng Lạc. (1998) Phong cách học. Nxb. Giáo dục.

2. Flood W.E. The problem of vocabulary in the popularisation of science. Edinburgh – London.

3. Hook J.H. Hook’s guide to good writing. New York.

4. Đào Hồng Thu. (2002) Phong cách học và Phong cách chức năng khoa học kỹ thuật – công nghệ. Tập bài giảng, ĐHBK Hà Nội.

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Phong cach hoc va phong cach chuc nang khoa hoc ki thuat – cong nghe tieng Viet

Posted by daothu09 on August 11, 2009

20 (a). Sach PCH - 2002

Đào Hồng Thu

MỤC LỤC

CHƯƠNG I – PHẦN TỔNG QUAN

I. Các khái niệm cơ bản

         1. Khái niệm “phong cách” và “phong cách học”

         2. Khái niệm phong cách và chuẩn mực

         3. Chuẩn ngôn ngữ và chuẩn phong cách

         4. Phong cách ngôn ngữ viết và phong cách ngôn ngữ nói

II. Đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu của phong cách  học và phong cách chức năng khoa học kỹ thuật – công nghệ

          1. Đối tượng của phong cách học và phong cách chức năng

          2. Nhiệm vụ của phong cách học

          3. Phương pháp nghiên cứu của phong cách học

          4. Quan hệ giữa phong cách học và các bộ môn khoa học khác

CHƯƠNG II – HỆ THỐNG PHONG CÁCH CHỨC NĂNG TIẾNG VIỆT

I. Tiêu chí phân loại hệ thống phong cách chức năng tiếng Việt

         1. Tiêu chí chức năng giao tiếp

         2. Tiêu chí phạm vi giao tiếp

         3. Tiêu chí chức năng thể hiện

II. Hoạt động của các phong cách chức năng tiếng Việt

         1. Phong cách nói tiếng Việt – khẩu ngữ

         2. Phong cách viết tiếng Việt – văn bản

         3. Phong cách chính luận – báo chí

         4. Phong cách văn học – nghệ thuật

CHƯƠNG III – PHONG CÁCH HÀNH CHÍNH – CÔNG VỤ

I. Khái niệm phong cách hành chính – công vụ

II. Đặc điểm cơ bản của phong cách hành chính – công vụ

         1. Tính chính xác – rõ ràng

         2. Tính nghiêm túc – khách quan – hệ thống

         3. Tính khuôn mẫu

III. Dạng lời nói và thể loại phong cách hành chính – công vụ

         1. Dạng lời nói

         2. Thể loại

IV. Chức năng ngôn ngữ của phong cách hành chính – công vụ

V. Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách hành chính – công vụ

         1. Từ ngữ của phong cách hành chính – công vụ

         2. Cú pháp phong cách hành chính – công vụ

CHƯƠNG IV – PHONG CÁCH KHOA HỌC VÀ PHONG CÁCH CHỨC NĂNG KHOA HỌC KĨ THUẬT – CÔNG NGHỆ

A. PHONG CÁCH KHOA HỌC

I. Khái niệm

II. Thể loại phong cách khoa học

          1. Tiểu dẫn

         2. Phong cách viết khoa học

         3. Phong cách nói khoa học

III. Tính chất cơ bản của phong cách khoa học

         1. Tính trìu tượng – khái quát cao

         2. Tính lô gích nghiêm ngặt

         3. Tính chính xác – khách quan

IV. Chức năng ngôn ngữ của phong cách khoa học

V. Đặc điểm ngôn ngữ của phong cách khoa học

         1. Thuật ngữ chuyên ngành trong phong cách khoa học

         2. Cú pháp phong cách khoa học

         3. Phương thức biểu đạt nội dung văn bản phong cách khoa học

B. PHONG CÁCH CHỨC NĂNG KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ

I. Khái niệm

II. Các phương pháp nghiên cứu phong cách chức năng khoa học kĩ thuật – công nghệ

III. Các tính chất cơ bản của phong cách chức năng khoa học kĩ thuật – công nghệ

         1. Tính lô gích nghiêm ngặt

         2. Tính rõ ràng – ngắn gọn – khách quan

         3. Tính trìu tượng – khái quát

         4. Tính sử dụng cấu trúc bị động và ký hiệu, công thức

IV. Đặc điểm ngôn ngữ phong cách chức năng khoa học kĩ thuật – công nghệ

         1. Từ ngữ trong phong cách chức năng khoa học kĩ thuật – công nghệ

         2. Cú pháp phong cách chức năng khoa học kĩ thuật – công nghệ

         3. Phương thức biểu đạt nội dung văn bản khoa học kĩ thuật – công nghệ

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

К вопросу о синтаксисе научного стиля речи в целях изучения иностранного языка

Posted by daothu09 on August 5, 2009

18 = 13 - 200218 = 13 - 2002 (1)

 ДАО Хонг Тху

Проблема стиля рассматривается при этом как в общем, так и в частном плане, определяется характер стиля, предлагаются его классификации, он описывается как некая совокупность или исследуются отдельные стилевые черты.

Современное быстрое развитие научной литературы, необходимость скорейшего ее перевода на различные языки и другие причины побуждают лингвистов активнее заниматься проблемами научной речи. Начиная с 60-х гг. появляются исследования, где язык науки рассматривается и оценивается постольку, поскольку речь идет о стилях и стилистике в целом: описания, специально посвященные научной речи, ее общей характеристике, жанрово – стилевой дифференциации; наблюдения над отдельными ее особенностями: работы по прикладному языкознанию, в которых материалом и объектом исследования нередко является та же научная речь.

Язык призван наилучшим образом обслуживать общение человека в разных сферах его общественной жизни. С развитием научного знания, появлением потребности обмена мнениями в области науки в указанную сферу втягиваются определенные средства национального литературного языка, создаются особые языковые организации, которые наиболее эффективно (с точки зрения говорящих и пишущих на данном языке) обеспечивают именно эту часть общественной речевой практики. Являясь подсистемой общелитературного языка, сложившись исторически, научный стиль неповторимым образом сочетает языковые признаки, часть которых своеобразно используется в других функционально – речевых разновидностях. В свете сказанного научный стиль следует понимать как совокупность ресурсов общелитературного языка, получивших определенное функциональное назначение, так и целый ряд высказываний.

Каждый из стилей, безусловно, обладает не только абсолютными, но и реляционными фонетическими, грамматическими, композиционно синтаксическими и другими свойствами, создающими стилевую специфику или сопутствующими ей и соответственно оцениваемыми при описании стилей. Поэтому стилистическое исследование всегда или почти всегда сопровождается сопоставлением (в явной или неявной форме) с другими функциональными стилями. Исследование показывает, что научный стиль лишь отчасти создается особыми, стилистически маркированными средствами, а главным образом он создается явлениями, общими для литературного языка, но целенаправленно организованными, функционирующими иначе, чем в речи разговорно – бытовой, общественно – политической и тем более художественной.

Научный стиль осознается таковым прежде всею потому, что существуют другие функциональные стили, которым он противопоставляется или с которыми, наоборот, соотносится. Их отличия прослеживаются в количественном и качественном распределении лексем и синтаксических конструкций, в морфологической и фонетической вариантности и т.п. Исследование проблемы синтаксиса научного стиля речи часто требует сопоставления научной речи с другими функционально организованными системами языковых средств.

Особенности синтаксиса научного стиля речи

Известно несколько типов членения научного стиля речи на подстили, в основу которых положены экстралингвистические факторы:

1. членение в зависимости от функции и адресата:

собственно – научный

научно – технический (технологический)

научно – популярный

научно – фантастический

2. членение в зависимости от сферы общения:

естественнонаучный (химия, физика, математика и др.)

научно – технический (механика, машиностроение и др.)

гуманитарно – научный (лингвистика, история, экономика и др.)

Анализ языка различных научных дисциплин: химики, физики, математики и др. показал, что разница в языке каждой из них не в том, как говорят, а в том, что говорят. На основании анализа научно – технической литературы научного стиля речи можно выделить целый ряд специфических лингвистических особенностей, присущих именно данному функциональному стилю. В научном стиле речи подчеркивается преобладание номинативных конструкций стиля над глагольными. Эго обусловлено тем, что научная мысль должна быть выражена с максимальной точностью, однозначностью, а глагол часто может быть многозначным, употребляться в переносном значении; глагольно – именные сочетания не допускают этого и придают высказыванию необходимую точность, четкость и однозначность. Например, сравним следующие глагольно – именные сочетания и соответствующие им глаголы:

Вступать в реакцию – реактировать

Совершать колебание – колебаться

Приходить во вращение – вращаться

Испытывать отклонение – отклоняться

Находить применение – применяться

В качестве специфической черты научного стиля речи отмечается наличие в нем большого количества сложных предложений. Мы сделали эмпирическую попытку подсчитать количество простых и сложных предложений в учебниках химии и электротехники. Было взято 1425 предложений из учебника химии и 1327 предложений из учебника электротехники. Подсчеты показали, что примерно 50% составляют сложные предложения и 50% – простые, но простые в большинстве своем являются осложненными, т.е. дополненными различными типами вставных оборотов.

Основные типы предложений, характерные  для научного стиля речи, и перевод их на вьетнамский язык

Исследование показывает, что ведущей стилевой чертой научного стиля является обобщенно – абстрагирующий характер стиля, вневременной план повествования. Однако ведущая стилевая черта, в данном случае обобщенность, абстрактность, выступает не только как внутренняя примета рассматриваемого функционального стиля, но и как стилеобразутощий фактор, обусловливающий преобладание в научной литературе определенных типов синтаксических конструкций. Для этого в первую очередь характерны предложения неопределенно – личные, обобщенно -личные и безличные. Действующее лицо в этих предложениях либо совсем отсутствует, либо мыслится обобщенно, неопределенно, и все внимание сосредоточивается на действии, на его обстоятельствах.

Неопределенно – личные предложения используются при выведении формул, законов, введении терминов, каких – либо условных буквенных обозначений и т.п. Например:

Молекулу называют наименьшую частицу вещества, сохраняющую его свойства. (Рhân tử là phần tử nhỏ bé nhất của chất duy trì các tính chất của chất)

Неопределенно – личные предложения могут быть простыми и могут входить в состав сложною. Например:

Изобарами называют атомы разных элементов с одинаковым массовым числом. (Đẳng áp là nguyên tử của các nguyên tố khác nhau có cùng số khối)

Обобщенно – личные предложения используются при объяснении материала, при доказательстве теорем, при обращении к примеру, к опыту, к формуле как к доказательству проводимого рассуждения, когда внимание опять же обращено к действию, к эксперименту. Например:

Обозначим эту работу через X. (Та biểu thị công này bằng kí hiệu X.)

Аналогичным образом найдем, что данные отрезки равны. (Bằng phương pháp tương tự chúng ta thấy rằng các đoạn cắt đã cho là bằng nhau.)

Безличные предложения с обобщенно – абстрагирующим характером мысли используются в научном тексте для выражения модальных отношений возможности, невозможности, необходимости действия. Например:

Требуется определить силу, действующую на кристалл. (Cần xác định lực tác dụng lên tinh thể.)

Необходимо отметить, что обобщенный, безличный характер научного стиля отражается и на структуре сложных предложений. Большинство придаточных условных и целевых являются безличными инфинитивными предложениями. Например:

Чтобы указать направление вращения тела, сравнивают это вращение с движением стрелки часов. (Đ chỉ ra được hướng quay của vật thể, người ta so sánh vật thể quay với sự chuyển động của kim đồng hồ.)

Если раскалить металл, то легко можно придать ему любую форму. (Nếu nung đ kim loại thì có thể dễ dàng tạo ra bất kì hình dạng nào từ kim loại đó.)

Научный анализ часто связан с сопоставлением различных явлений. Отсюда сопоставительные конструкции преобладают в научных рассуждениях, при проведении различных доказательств, введении формул и т.п. Выделяются следующие типы конструкций:

1. Предложения, в которых выражается соответствие явлений по степени их интенсивности. Это предложения с расчлененным союзом чем … тем, при этом придаточное предложение обычно препозитивно, в придаточном и главном содержится компаратив. Например:

Чем ниже температура, тем больше получается озона. (Nhiệt đ càng thấp, lượng ozon nhận được càng lớn.)

2. Предложения, в которых выражается пропорциональная связь явлении. Например:

На    сколько    уменьшится    потенциальная    энергия    тела,    на    столько увеличится его кинетическая энергия. (Thế năng của vật thể càng giảm đi bao nhiêu thì động năng của vật thể đó càng tăng bấy nhiêu.)

3. Характерны для научного стиля конструкции, выражающие соответствие двух взаимосвязанных явлений. Например:

По мере повышения температуры упругость насыщенного пара быстро возрастает. (Khi tăng nhiệt đ, áp suất hơi bão hòa tăng nhanh.)

Сопоставительный анализ явлений в научном стиле отразился и на форме некоторых сложных предложений. В сложноподчиненных предложениях с придаточными условными выражаются     преимущественно условно сопоставительные отношения. Например:

Если размеры тел не очень малы, то число таких молекул весьма мало по сравнению с числом молекул в основном объеме. (Nếu kích thước của vật thể không quá nhỏ thì số các phân tử như vậy là đ nhỏ so với số phân tử theo thể tích chuẩn.)

Сопоставительные отношения выражаются в сложноподчиненных предложениях с придаточными временными (условно – временными), так как придаточные чисто временные не характерны для научного стиля речи в силу его вневременного характера. Например:

Когда тело движется вертикально вверх, кинетическая энергия превращается в потенциальную. (Khi vật thể chuyển động thẳng lên phía trên, động năng biến thành thế năng.)

Для научного стиля речи характерны в основном несобственно – целевые предложения со значением необходимого основания, которые, как правило, употребляются с союзами чтобы, для того чтобы, выражающими целевое значение в наиболее обобщенном виде. Именно поэтому они получили распространение в научном стиле речи. Например:

Чтобы дождаться образования значительного количества продуктов реакции, требуется много времени. (Đ đạt được lượng đáng kể sản phẩm của phản ứng tạo thành, cần đòi hỏi nhiều thời gian.)

Отношения сопоставления, взаимозависимости явлений выражаются в сложноподчиненных предложениях с придаточными причинно следственными, которые вводятся чаще всего союзами так как, поскольку. Широта отвлеченности семантики указанных союзов позволяют им выражать не только собственно причинные отношения, но и отношения логического обоснования: в главном предложении дается умозаключение, вывод, а в придаточном сообщается о предпосылках, об основании для вывода. Именно поэтому указанные союзы так характерны для научного стиля. Например:

Поскольку кинетическая энергия есть величина положительная, то положительна и температура Т. (Do động năng là đại lượng dương nên nhiệt đ T cũng là dương.)

Так как научная мысль должна быть выражена с наибольшей четкостью, точностью. краткостью. не допускается никакой многозначности, двусмысленности, во всем должна быть соблюдена логическая последовательность, определенная организация всех языковых средств предъявляется на всех уровнях. В научном стиле речи распространены так называемые уточняющие пояснительные предложения и обороты, которые вводятся преимущественно союзами то есть (т.е.) и или. Например:

В огромном большинстве случаев расстворенное вещество не переходит в твердую фазу, т.е. из раствора вымерзает чистый растворитель. (Trong phần lớn các trường hợp chất đã được hòa tan không chuyển sang dạng cứng, nghĩa là dung môi tinh khiết đông tách khỏi dung dịch.)

По мере дальнейшего увеличения давления возрастание концентрации замедляется, стремясь в конце концов к некоторому пределу, или, как говорят, к насыщению. (Nếu tiếp tục tăng áp suất thì nồng đ tăng chậm lại, cuối cùng dừng lại giới hạn nào đó hoặc, như thường gọi, bão hòa.)

Для научного стиля речи характерны сложные предложения, в которых связь между главными и придаточными находится на фани сочинения и подчинения, или с так называемыми придаточными относительно – распространительными, которые присоединяются к главному с помощью союза что. Эти предложения делают высказывание более четким, точным, законченным. Например:

При нагревании пластмасса плавится, что является одним из свойств
пластмассы. (Khi nung nóng, nhựa bị nóng chảy và đây là một trong các tính chất của nhựa.)

Требованиям четкости, однозначности высказывания в научном стиле речи служат придаточные определителыю – выделительные предложения. Эти предложения используются преимущественно при выводе формул. Например:

В этой системе отсчета суммарный импульс частиц равен нулю:

m1v1 + m2v2 = 0

где v1v2скорости частиц. (Trong hệ thống báo cáo này, tổng xung của các hạt bằng 0):

m1v1 + m2v2 = 0

đây, v1v2 là vận tốc của các hạt.)

Таким же цепям в научном стиле речи служат сложные бессоюзные предложения, госпутствующим типом являются предложения объясняющие, уточняющие. Например:

Характерной особенностью перехода лиофильного золя в гель является его обратимость: в соответствующих условиях гель может, вобрав в себя достаточное количество растворители, снова превратиться в золь. (Tính chất đặc trưng chuyển keo ưa dung môi thành gel là tính thuận nghịch của nó: các điều kiện tương ứng, sau khi nhận đ lượng dung môi, gel có thể lại biến thành keo.)

Научная мысль должна быть выражена наиболее рационально, сжато, ибо должна восприниматься сразу правильно и точно. В научном стиле речи весьма характерно употребление различных именных конструкций там, где в общелитературном языке наблюдается употребление придаточных предложений. Например:

1. условно – временные конструкции с предлогам при:

При вращении колеса турбины возникают огромные центробежные силы. (Khi quay bánh xe tuốc bin, xuất hiện lực li tâm lớn.)

2.    причинно – целевые конструкции с предлогом для:

Для получения требуемого химического состава отливок производят расчет шихты. (Đ đúc được thành phẩm có thành phần hóa học cần thiết, người ta tiến hành tính liệu lò.)

3. конструкции, в которых указывается на взаимную связь явлений:

По мере сближения свойств жидкости и газа уменьшается и теплота перехода q между ними. (Do các tính chất của chất lỏng và chất khí tiếp cận nhau nên nhiệt chuyển hóa q giữa chúng giảm xuống.)

Тем же требованиям краткости, сжатости в передаче научной информации служат причастные и деепричастные обороты, которые являются своеобразными эквивалентами придаточных предложений и позволяют сжимать их содержание. Например:

Работа, производимая над деформируемым телом, запасается в нем в виде упругой энергии. (Công sinh ra trên vật thể biến dạng được trữ trong vật dạng năng lượng đàn hồi.)

Специфическими чертами научного стиля речи являются:

– обобщенно – абстрагирующий характер стиля, с чем связано отсутствие эмоциональных характеристик (исключение составляет полемическая статья);

– минимальная степень конкретизации речевых средств;

–  номинативный характер стиля;

– использование определенных средств дня передачи информации с наибольшей точностью и однозначностью, в строгой логической последовател ьности.

Необходимо отметить, что организация всех языковых возможностей в научном стиле речи подчинена характеристике действия (а не деятеля), различных обстоятельств, при которых протекает действие, а также характеристике отношений между явлениями.

Таким   образом,   исследование данный   темы   приводит   к   выводу,   что процесс обучения научной речи является важной частью процесса обучения иностранному языку студентов технических вузов. Задачи отбора материала для обучения, задачи лингвистического анализа и описания, методической организации материала могут быть рещены по – разному. В практике преподавания иностранного языка студентам в технических вузах можно отметить два подхода к решению вопроса о том, как должен быть представлен материал по научной речи в учебном пособии.

1. Обучение научной речи идет параллельно с обучением другим стилям речи: разговорному, художественному. В учебниках такого рода тексты по научной речи включены в общую ткань учебника и переплетаются, с текстами из художественной литературы, диалогами, деловыми текстами. Естественно, что грамматический материал не дифференцирован в отношении стиля речи, методическая организация не учитывает характера речи. Это так называемые учебники и пособия общего типа.

2. Научная речь рассматривается как самостоятельный предмет обучения. Ее лингвистическое описание целенаправлено, дифференцировано и базируется на всем объеме грамматического материача. зафиксированного при анализе научных текстов. Оно опирается на сематико-синтаксическую основу научного языка определенного цикла наук. Исходя из особенностей научного стиля как ясности, логичности, сжатости, точности и т.д., станет ясно, что необходимо тщательное описание языковых средств научного стиля речи в их системе и взаимосвязи. Поэтому презентация языкового материала должна соответствовать грамматической системе языка науки и определяться этой системой.

Цель обучения – развитие научной речи на основе грамматической системы, присущей научному языку в целом. В эту систему входят и стилистически маркированные черты научного языка в целом. Лингвистическое исследование языка научно – технической литературы бесспорно доказывает, что вся научно – техническая во всех ее разновидностях совокупно представляет собой определенный функциональный стиль речи, обладающий характерными осбенностями, выделяющими научно – техническую литературу в особую категорию средств языкового общения.

Нужно отметить, что особенности синтаксиса научного стиля, хотя и присущи научно – технической литературе любом языке, тем не менее не переходят однозначно из языка в язык, а в каждом отдельном языке выражаются своеобразно. Это своеобразие следует учитывать при переводе изучаемого языка на родной и наоборот.

Литература

1.   М.Н. Кожина. Стилистика русского языка. Москва. “Просвещение”. 1977.

2. Русский язык в нефилологическом вузе. Сб. статей. Москва, “Русский язык”, 1985.

3. В. В Морковкин.   Язык как  проводник  и  носитель знания.  Ж. Русский  язык  за рубежом, № 1-2’97.

4. А.Вежбицкая. Семантические универсалии и описание языков, М., 1999.

5. Д.Лухьенбурс.  Дискурсный  анализ и  схематическая  структура. Вопросы языкознания. N2,1996.

Posted in CÔNG NGHỆ DẠY HỌC (Teaching Technology), NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Về vấn đề phát triển ngoại ngữ chuyên ngành trong quá trình hội nhập quốc tế

Posted by daothu09 on August 3, 2009

17 = 12 - 200217 = 12 - 2002 (1)17 = 12 - 2002 (2)

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đào Hồng Thu

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

Ngoại ngữ – ngôn ngữ nước ngoài – chuyên ngành ngày càng được nhắc tới như một yếu tố không thể thiếu trong quá trình tạo tiền đề cho hội nhập quốc tế là Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước. Trong quá trình này, vấn đề đặt ra là ngành giáo dục và đào tạo cần có những đổi mới cơ bản và mạnh mẽ nhằm cung cấp cho đất nước những con người lao động có chuyên môn và hiệu quả cao trong hoàn cảnh mới. Việc dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành ở bậc đại học và sau đại học cũng không nằm mgoài mục tiêu trên. Ngoại ngữ chuyên ngành như “chiếc cầu nối” kinh tế và văn hóa Việt Nam với thế giới bên ngoài.

Thế giới đang bước vào thời kì kinh tế tri thức. Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là một xã hội của tri thức và dựa vào tri thức, vào tư duy sáng tạo của con người. Để có thể vươn lên hội nhập vào cộng đồng thế giới, chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến, đồng thời cần biết áp dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo, tìm ra được phương thức phát triển phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam. Khi tri thức xã hội thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế tri thức thì người lao động cũng phải biết tự đổi mới kiến thức và năng lực của mình cho phù hợp với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ. Người lao động phải có khả năng tự định hướng và tự vươn lên để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội.

Trong khuôn khổ bài báo, chúng tôi đề cập đến các vấn đề cơ bản hiện nay của ngoại ngữ chuyên ngành nói chung, ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ nói riêng trong việc phát triển và nâng cao hiệu quả dạy – học để đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập ở Việt Nam hiện nay.

Giảng viên ngoại ngữ chuyên ngành – loại hình người lao động trong lĩnh vực đặc thù của xã hội – ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc của người lao động tạo ra sản phẩm cho xã hội là con người có trình độ ngôn ngữ nước ngoài theo các chuyên ngành nhất định về khoa học kĩ thuật và công nghệ ở bậc đại học và sau đại học, có các kĩ năng sử dụng tốt và sáng tạo ngoại ngữ đã được học để có thể đáp ứng được các yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đất nước, góp phần đẩy nhanh tiến độ hội nhập, còn phải làm nhiệm vụ “cầu nối” kiến thức và văn hóa giữa các dân tộc trên thế giới thông qua việc giảng dạy  và nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực của người giảng viên – người lao động.

Một điều dễ dàng nhận thấy khi chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa đầu tiên của thế kỉ XXI là sinh viên khối kĩ thuật và công nghệ ở Việt Nam từ Bắc vào Nam, tư miền xuôi đến miền ngược được tiếp xúc hàng ngày với thông tin cập nhật, với khoa học kĩ thuật và công nghệ đang biến đổi rất nhanh chóng cùng với sự hiện diện của các ngoại ngữ mà chủ yếu là tiếng Anh với hàng loạt thuật ngữ khoa học, với cách diễn đạt rất đa dạng trong các lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ theo phong cách khoa học và phong cách chức năng khoa học kĩ thuật và công nghệ.

Như vậy, vai trò của ngoại ngữ chuyên ngành và giảng viên ngoại ngữ chuyên ngành trong giai đoạn hiện nay là vô cùng to lớn và mang tính chất quyết định chất lượng của quá trình hội nhập quốc tế.

Để thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo đại học và sau đại học nói chung, ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ nói riêng, theo chúng tôi, phải giải quyết đồng bộ rất nhiều mặt có liên quan đến giáo dục. Về phương diện đào tạo, phương pháp giáo dục, công nghệ dạy và học, nghị quyết TW2 của Đảng đã nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học.”

Trên cơ sở mục tiêu đã nêu trên, chúng ta thấy rằng việc dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành có thể được tiến hành theo tiến trình sau.

1. Dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành thông qua hoạt động của người học và trên cơ sở thực tế xã hội.

Dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành là một loại hoạt động đặc thù của con người, nghĩa là cũng bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: động cơ, mục đích, điều kiện và hoạt động, hành động, thao tác. Như vậy, muốn thỏa mãn động cơ đề ra, phải thực hiện lần lượt các hành động cụ thể để đạt được mục đích cụ thể. Trong quá trình dạy và học, kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của người học. Vì vậy, nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn hoạt động học của người học để thông qua hoạt động học của mình, người học có thể lĩnh hội được các kĩ thuật cần thiết để phục vụ cho công việc của họ sau khi nhận việc.

Ngôn ngữ kĩ thuật có những đặc thù theo từng chuyên ngành rộng và hẹp. Vì vậy, muốn tổ chức, hướng dẫn tốt hoạt động học tập ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ của người học mà thực chất là hoạt động nhận thức ngoại ngữ và các phương pháp thể hiện sáng tạo ngôn ngữ được học, giảng viên cần nắm được qui luật chung của quá trình nhận thức một khoa học, cơ chế sinh lí của hoạt động ngôn ngữ, động cơ và mục đích của việc học ngoại ngữ, các kĩ xảo và kĩ năng giao tiếp. Đối với việc dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ ở bậc đại học và sau đại học, trí nhớ thuật ngữ khoa học và sử dụng sáng tạo chúng trong các văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ đóng vai trò hết sức quan trọng. Quá trình duy trì và phát triển trí nhớ, tư duy ngôn ngữ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành.

Môi trường của người học ngoại ngữ chuyên ngành hiện nay là môi trường sống động của nền kinh tế tri thức với động lực là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, với giao lưu hội nhập quốc tế nên giảng viên dạy ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ cũng cần nắm được kiến thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ hiện đại bằng tiếng Việt kĩ thuật và cả bằng ngoại ngữ được giảng dạy  tại trường.

Với kiến thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ bằng tiếng Việt và bằng ngôn ngữ nước ngoài cần thiết cho quá trình dạy và học của giảng viên ngoại ngữ chuyên ngành, chúng tôi hi vọng chắc chắn rằng các bài học ngoại ngữ của người học sẽ hấp dẫn hơn, và hơn thế nữa, hoạt động lĩnh hội kiến thức khoa học kĩ thuật và công nghệ bằng ngoại ngữ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người học trong việc đọc tài liệu, viết báo cáo khoa học, tham gia hội thảo về chuyên ngành và đặc biệt là viết luận văn tốt nghiệp và luận văn cao học về chuyên môn của người học.

Cuối cùng, giảng viên ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ cần nắm vững các phương pháp giảng dạy  và đưa ra được các biện pháp để giúp người học thực hiện được mục tiêu đề ra, tự lực thực hiện hành động học của mình, đặc biệt trong môi trường xã hội không có giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ được học như hiện nay.            

II. Vấn đề nhận thức ngoại ngữ chuyên ngành và các phương thức tiếp cận cơ bản

Để việc đổi mới và nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành trong quá trình Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đạt hiệu quả, chúng tôi đặt mục tiêu trong khuôn khổ bài báo đề cập đến một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nhận thức ngoại ngữ chuyên ngành nói chung, của ngoại ngữ chuyên ngành khoa học nói chung, của ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ nói riêng hiện nay.

1. Qui luật chung của quá trình nhận thức

Quá trình nhận thức một ngôn ngữ là quá trình nhận thức khách quan. Theo tâm lí học hiện đại thì trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt được các mức độ nhận thức khác nhau, ở mức độ thấp ban đầu, con người nhận thức theo cảm tính, ở mức độ cao, nhận thức của con người là nhận thức lí tính (tư duy), tức là trong tư duy của con người phản ánh thuộc tính bản chất bên trong của sự vật, các mối quan hệ có tính qui luật. Ở đây, con người thực hiện các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra các tính chất chủ yếu của đối tượng nhận thức và xây dựng thành khái niệm. Mỗi khái niệm được diễn đạt bằng một từ ngữ. Ngoài ra, sự nhận thức còn thực hiện các phép suy luận để rút ra những kết luận mới, dự đoán những hiện tượng mới trong thực tiễn. Do vậy, tư duy luôn có tính sáng tạo, nếu được rèn luyện và phát triển sẽ giúp con người cải tạo thế giới khách quan, phục vụ lợi ích của con người.

Trên cơ sở qui luật chung của nhận thức, đối với mỗi ngành khoa học, quá trình nhận thức đều có các nét đặc thù, phụ thuộc vào đối tượng nhận thức cụ thể. Mỗi khoa học chỉ trở thành một khoa học thực sự khi nó có một hệ thống khái niệm rõ ràng và một phương pháp nghiên cứu có hiệu quả. Từ đây, chúng ta thấy rằng việc nhận thức bản chất của ngôn ngữ dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành như một khoa học đặt cơ sở vững chắc cho lí luận, làm nền tảng cho phương hướng giải quyết toàn bộ các vấn đề về dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ trong các trường kĩ thuật hiện nay.    

2. Hoạt động nhận thức trong dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành

Chúng ta biết rằng hoạt động nhận thức của con người chỉ thực sự bắt đầu khi gặp phải mâu thuẫn giữa trình độ đang có và nhiệm vụ cần giải quyết mà các kiến thức, kĩ năng đang có là chưa đủ để giải quyết vấn đề. Để khắc phục mâu thuẫn, con người phải xây dựng kiến thức mới, phương pháp mới, kĩ năng mới. Trên thực tế, dạy và học nói chung, dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành nói riêng là hoạt động giải quyết vấn đề nhận thức của người dạy và người học. Quá trình dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành là quá trình liên tục giải quyết các vấn đề về dạy và học các môn học về ngoại ngữ chuyên ngành của chương trình đào tạo ngoại ngữ chuyên ngành ở các trình độ cao đẳng, đại học và sau đại học.

Để việc đào tạo sinh viên và học viên các trường đại học kĩ thuật có kiến thức ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại đạt hiệu quả, trong phần này, tác giả bài báo đề cập đến mối liên hệ giữa tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học, trong dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ và các phương thức giải quyết vấn đề trong quá trình dạy và học.

2.1. Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học.

Trong quá trình giảng dạy  ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ cho sinh viên và học viên các trường đại học kĩ thuật, theo chúng tôi, cần thiết phải giới thiệu hoặc nhắc lại cho người học nắm được tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học và so sánh với phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành để tìm những điểm chung và đặc thù. Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học được tiến hành như sau:

* Xác định nội dung, yêu cầu và điều kiện của vấn đề cần giải quyết;

* Tổng quan các phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra (nếu có) và điểm lại những vấn đề tương tự đang tồn tại;

* Nếu vấn đề nêu lên đã có giải pháp thì liệt kê các giải pháp đã có và lựa chọn một giải pháp thích hợp với vấn đề được nêu;

* Nếu chưa có, phải đề xuất giải pháp mới hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng kiến thức và phương tiện mới để giải quyết vấn đề đã nêu;

* Thử nghiệm vào thực tế để đánh giá hiệu quả, bổ sung và hoàn thiện kết quả được công bố.   

2.2. Đặc điểm giải quyết vấn đề của quá trình dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ.

Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ giữa tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học và trong quá trình dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ được thể hiện ở các điểm sau:

* Về động cơ, nhu cầu: Điểm giống nhau là vấn đề cần giải quyết đã tự xác định mục đích, nhu cầu. Tuy nhiên, sự khác nhau là ở chỗ, nhà khoa học tự nguyện đem hết sức mình để giải quyết bằng được vấn đề đặt ra, còn sinh viên chưa ở mức độ có ý thức tập trung cao độ và đem hết sức mình để giải quyết vấn đề học tập của bản thân;

* Về năng lực giải quyết vấn đề: Khi chấp nhận giải quyết vấn đề, người giải quyết vấn đề đã có một trình độ kiến thức, kĩ năng kĩ xảo nhất định. Với cùng lượng thời gian, vấn đề được giải quyết ở mức độ và cấp độ khác nhau;

* Về điều kiện làm việc: Nhà khoa học có trong tay hoặc phải tạo ra các điều kiện và cơ sở vật chất phù hợp để giải quyết vấn đề. Sinh viên học ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ chưa đủ điều kiện hoặc chỉ có thể đạt được các điều kiện ở mức độ thấp như sách giáo khoa, đài, băng ….

Trong môi trường khoa học kĩ thuật và công nghệ, người học có rất nhiều điều kiện thuận lợi để lĩnh hội kiến thức về ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ có hiệu quả nhất. Nhiệm vụ của người truyền đạt kiến thức – giảng viên ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ – là đưa ra được các phương pháp phù hợp để người học có thể vận dụng sáng tạo vào quá trình học tập của mình.    

3. Các phương thức giải quyết vấn đề cơ bản

Phương thức giải quyết vấn đề theo kiến thức đã biết (bằng phương pháp diễn dịch, quy nạp, so sánh). Nếu áp dụng giải quyết vấn đề theo phương thức này thì việc tiếp nhận ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ của người học sẽ đạt kết quả khi:

* sử dụng ngôn ngữ kĩ thuật (tiếng Việt kĩ thuật và ngoại ngữ chuyên ngành) để giải quyết các bài học có liên quan đến khoa học kĩ thuật và công nghệ;

* tiếp nhận các thuật ngữ kĩ thuật;

* dịch thuật các văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ;

* làm các bài tập, viết báo cáo khoa học trên cơ sở văn bản theo phong cách chức năng khoa học kĩ thuật và công nghệ;

* định hướng nghiên cứu khoa học bằng ngôn ngữ phong cách khoa học.

Phương thức nghiên cứu, sáng tạo từng phần: Phương thức này được sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới, vấn đề mới. Ở đây, trực giác đóng vai trò quan trọng. Vấn đề đặt ra là người học cần được rèn luyện trực giác khoa học để dự đoán một câu trả lời, một giải pháp cho vấn đề đặt ra rồi tìm cách kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán đó bằng thực nghiệm. Phương thức này là khả quan khi được thực hiện để áp dụng các thủ pháp trong quá trình dạy và học ngoại ngữ chuyên ngành, trong việc xây dựng và dự đoán hệ thống thuật ngữ kĩ thuật, đặc biệt sẽ đem lại hiệu quả rõ rệt trong nghiên cứu khoa học và trong các dự án mang tính chiến lược.

Phương thức sáng tạo tổng hợp: Kiến thức khoa học luôn được tiếp nhận và khái quát theo một trật tự (lôgích) nhất định. Sáng tạo tổng hợp trong khoa học giúp người học có thể dựa vào kiến thức đã có để tổ chức hoạt động nghiên cứu và dạy – học có hiệu quả.

Thực tế đã và đang chứng minh rằng ngoại ngữ chuyên ngành đã, đang và sẽ quyết định hiệu quả của tiến trình phát triển thành một xã hội công nghiệp hiện đại và hội nhập quốc tế của Việt Nam. Để đạt được kết quả khả quan trong việc lập chương trình tổng thể cho phát triển ngoại ngữ chuyên ngành như một yếu tố khách quan và cần thiết trong quá trình hội nhập, theo chúng tôi, cần có cơ chế và chính sách mang tính quốc gia cho phát triển ngoại ngữ chuyên ngành nói chung, cho ngoại ngữ chuyên ngành nói riêng.

Tài liệu tham khảo

1. A.A.Leontiev. Ngôn ngữ như một hiện tượng xã hội. Viện HLKH Nga, 1976.

2. Bùi Hiền. Phương pháp hiện đại dạy – học ngoại ngữ. Nxb.ĐHQG Hà Nội, 1999.

3. S.Sacovski. Xã hội hóa giao tiếp ngôn ngữ và các vấn đề về giảng dạy  tiếng nước ngoài. Moscow, 1987.

4. Đào Hồng Thu. Phân bố chương trình tiếng Anh chuyên ngành công nghệ Hóa – Sinh – Môi trường trong quá trình đào tạo trình độ cử nhân tiếng Anh công nghệ – kĩ thuật. Báo cáo khoa học tại Hội nghị khoa học lần thứ 19, Đại học Bách Khoa Hà Nội, tháng 10 – 2001.

5. Đào Hồng Thu. Dạy và học ngoại ngữ ở môi trường không chuyên ngữ. Tạp chí khoa học và công nghệ 4 trường đại học, số 12 tháng 9/1996.

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Ngoại ngữ chuyên ngành kĩ thuật – công nghệ với việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ thập kỉ đầu thế kỉ XXI – cơ sở lí luận và thực tiễn

Posted by daothu09 on July 28, 2009

11 = 2 - 200111 = 2 - 2001 (1)11 = 2 - 2001 (2)11 = 2 - 2001 (3)

Đào Hồng Thu

I. Dẫn nhập

Cùng với toàn thế giới, Việt Nam đã bước sang thế kỉ XXI với nhiều thử thách và vận hội mới. Đất nước ta đang ở giai đoạn Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lí của Nhà nước. Thế giới đang bước vào thời kì kinh tế tri thức. Xã hội mới phồn vinh ở thế kỉ XXI phải là một xã hội của tri thức và dựa và tri thức, vào tư duy sáng tạo của con người. Để có thể vươn lên hội nhập vào cộng đồng thế giới, chúng ta phải học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến, đồng thời cần biết áp dụng những kinh nghiệm đó một cách sáng tạo, tìm ra được phương thức phát triển phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

Quá trình Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế đòi hỏi ngành giáo dục và đào tạo cần có những đổi mới cơ bản và mạnh mẽ nhằm cung cấp cho đất nước những con người lao động có chuyên môn và hiệu quả cao trong hoàn cảnh mới. Việc dạy và học ngoại ngữ ở phổ thông cũng không nằm ngoài mục tiêu trên. Do đó, trong đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ của thập kỉ đầu thế kỉ XXI vấn đề cập nhật các kiến thức cho sự phát triển tri thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ là cần thiết.

Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ngày nay ở Việt Nam và các nước trên thế giới không chỉ dừng lại ở việc truyền đạt cho học sinh các kiến thức, kĩ năng của các thế hệ loài người, mà còn chú ý đến việc bồi dưỡng cho họ năng lực sáng tạo ra tri thức mới, cách giải quyết vấn đề mới phù hợp với hoàn cảnh của mỗi dân tộc, mỗi đất nước.

Trong thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, khi tri thức xã hội thay đổi nhanh chóng theo nền kinh tế tri thức thì người lao động cũng phải biết tự đổi mới kiến thức và năng lực của mình cho phù hợp với sự phát triển của khoa học kĩ thuật và công nghệ. Người lao động phải có khả năng tự định hướng và tự vươn lên để thích ứng với đòi hỏi mới của xã hội. Giáo viên phổ thông ngoại ngữ – loại hình người lao động trong lĩnh vực đặc thù của xã hội – ngoài việc phải tuân thủ các nguyên tắc của người lao động tạo ra sản phẩm – con người có trình độ bậc phổ thông – cho xã hội, còn phải làm nhiệm vụ “cầu nối” kiến thức và văn hóa giữa các dân tộc trên thế giới thông qua việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học theo lĩnh vực của người giáo viên – người lao động.

 Một điều dễ dàng nhận thấy khi chúng ta đã bước qua ngưỡng cửa đầu tiên của thế kỉ XXI là học sinh các trường phổ thông ở Việt Nam từ Bắc vào Nam, từ miền xuôi đến miền ngược được tiếp xúc hàng ngày với thông tin cập nhật, với khoa học kĩ thuật và công nghệ đang biến đổi rất nhanh chóng cùng với sự hiện diện của các ngoại ngữ mà chủ yếu là tiếng Anh với hàng loạt thuật ngữ khoa học, với các cách diễn đạt rất đa dạng trong các lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ theo phong cách khoa học.

Từ đây, chúng ta thấy rằng người giáo viên phổ thông ngoại ngữ của thập kỉ đầu thế kỉ XXI mang trọng trách rất to lớn.

II. Dạy và học ngoại ngữ thông qua hoạt động của học sinh trên cơ sở thực tế xã hội.

Để thực hiện mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo phổ thông nói chung, phổ thông ngoại ngữ nói riêng, theo chúng tôi, phải giải quyết đồng bộ rất nhiều mặt có liên quan đến giáo dục.

Về phương diện đạo tạo, phương pháp giáo dục, công nghệ dạy và học, nghị quyết TW2 của Đảng nêu rõ : “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học, từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy và học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”.

Thành tựu to lớn và quan trọng nhất của tâm lí học thế kỉ XX được sử dụng làm cơ sở để đổi mới phương pháp dạy và học là lí thuyết hoạt động của L.X.Vưgôtski (Nga) và được Lêônchiev kế thừa và phát triển. Theo lí thuyết này, bằng hoạt động và thông qua hoạt động, con người tự sinh thành ra mình, kiến tạo và phát triển nhân cách của mình. Như vậy, mỗi người đều là một chủ thể có ý thức tự giác trong mọi hoạt động của chính người đó. Bằng hoạt động và thông qua hoạt động của bản thân, con người chiếm lĩnh kiến thức, hình thành và phát triển năng lực trí tuệ cũng như quan điểm về hành vi và đạo đức.

Dạy và học ngoại ngữ là một loại hoạt động đặc thù của con người. Loại hình hoạt động này có cấu trúc giống như hoạt động lao động sản xuất nói chung, nghĩa là cũng bao gồm các thành tố có quan hệ và tác động đến nhau: động cơ, mục đích, điều kiện và hoạt động, hành động, thao tác. Chúng ta thấy rằng động cơ quy định sự hình thành và diễn biến của hoạt động. Như vậy, muốn thỏa mãn động cơ đề ra, phải thực hiện lần lượt các hoạt động cụ thể để đạt được mục đích cụ thể. Cuối cùng, mỗi hoạt động được thực hiện bằng nhiều thao tác sắp xếp theo một trình tự xác định và ứng với mỗi thao tác phải sử dụng các phương tiện, công cụ thích hợp. Bất kì hoạt động nào cũng đều có đối tượng phù hợp. Thông thường, nếu hoạt động có đối tượng là một khách thể thì nó có xu hướng làm biến đổi khách thể. Hoạt động dạy và học là loại hình hoạt động đặc thù nên nó làm cho chính chủ thể (người dạy và người học) biến đổi và phát triển.

Trong quá trình dạy và học, kết quả của việc học tập phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động học của học sinh. Vì vậy, nhiệm vụ chính của giáo viên là tổ chức, hướng dẫn hoạt động của học sinh để thông qua hoạt động học của mình, học sinh có thể lĩnh hội được nền văn hóa xã hội, tạo ra sự phát triển các phẩm chất tâm lí, hình thành nhân cách của họ.

Muốn tổ chức, hướng dẫn tốt hoạt động học tập ngoại ngữ của học sinh phổ thông mà thực chất là hoạt động nhận thức ngoại ngữ và các phương pháp thể hiện sáng tạo ngôn ngữ được học, người giáo viên cần nắm được quy luật chung của quá trình nhận thức một khoa học, cơ chế sinh lí của hoạt động ngôn ngữ, động cơ và mục đích của việc học ngoại ngữ, các kĩ xảo và kĩ năng giao tiếp. Đối với giáo viên dạy ngoại ngữ ở phổ thông, trí nhớ ngoại ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng. Quá trình duy trì và phát triển trí nhớ, tư duy ngôn ngữ góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ.

Môi trường của học sinh phổ thông hiện nay là môi trường sống động của nền kinh tế tri thức với động lực là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và công nghệ, với giao lưu hội nhập quốc tế nên người giáo viên dạy ngoại ngữ phổ thông cũng cần nắm được kiến thức về khoa học kĩ thuật hiện đại bằng tiếng Việt và cả bằng ngoại ngữ được giảng dạy tại trường.

Trong thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, việc lĩnh hội và vận dụng các kiến thức về ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ của giáo viên phổ thông ngoại ngữ có thể ở mức độ các thuật ngữ khoa học cơ bản, khoa học kĩ thuật, công nghệ của một số lĩnh vực phổ biến như điện tử viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ hóa học, công nghệ môi trường, dệt may và các phương pháp trình bày nội dung thông tin của các ngành kỹ thuật – công nghệ trên.  

Với kiến thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ của giáo viên, chúng tôi hy vọng chắc chắn rằng các bài học ngoại ngữ (chính khóa và ngoại khóa) của học sinh sẽ hấp dẫn hơn, và hơn thế nữa, hoạt động lĩnh hội kiến thức khoa học kĩ thuật và công nghệ bằng ngoại ngữ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người giáo viên hỗ trợ các học sinh cuối cấp phổ thông trung học có xu hướng lựa chọn ngành nghề và thi vào các trường dạy nghề, cao đẳng và đại học thuộc khối kĩ thuật và công nghệ. Chúng ta biết rõ rằng số thí sinh lựa chọn và thi vào khối ngành kỹ thuật hàng năm không phải là ít, chỉ tính riêng trường Đại học Bách Khoa Hà Nội hàng năm trung bình có từ 27,000 đến 33,000 thí sinh dự thi.

Cuối cùng, người giáo viên dạy phổ thông ngoại ngữ cần nắm và đưa ra được các biện pháp để động viên, khuyến khích học sinh tích cực, tự lực thực hiện hành động học của mình, đặc biệt trong môi trường xã hội không có giao tiếp hàng ngày bằng ngôn ngữ được học, cũng như đánh giá kết quả hành động dạy và học ngoại ngữ ở phổ thông hiện nay.  

III. Vấn đề nhận thức ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đối với giáo viên phổ thông ngoại ngữ.

 Để việc đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ trong quá trình Công nghiệp hóa và Hiện đại hóa đạt hiệu quả, chúng tôi đặt mục tiêu trong khuôn khổ bài báo này đề cập đến một số vấn đề về cơ sở lí luận và thực tiễn của việc nhận thức ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đối với giáo viên phổ thông ngoại ngữ hiện nay.

1. Quy luật chung của quá trình nhận thức:

Quá trình nhận thức một ngôn ngữ là quá trình nhận thức khách quan. Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác đã nêu rõ quy luật chung nhất của hoạt động nhận thức là: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trìu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của nhận thức chân lí, của sự nhận thức hiện thực khách quan”.

Theo tâm lí học hiện đại thì trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt được các mức độ nhận thức khác nhau, ở mức độ thấp ban đầu, con người nhận thức theo cảm tính, ở mức độ cao, nhận thức của con người là nhận thức lí tính (tư duy), tức là trong tư duy của con người phản ánh thuộc tính bản chất bên trong của sự vật, các mối quan hệ có tính quy luật. Ở đây, con người thực hiện các thao tác phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát hóa, trừu tượng hóa để rút ra tính chất chủ yếu của đối tượng nhận thức và xây dựng thành khái niệm. Mỗi khái niệm được diễn đạt bằng một từ ngữ. Ngoài ra, sụ nhận thức còn thực hiện các phép suy luận để rút ra những kết luận mới, dự đoán những hiện tượng mới trong thực tiễn. Do vậy, tư duy luôn có tính sáng tạo, nếu được rèn luyện và phát triển sẽ giúp con người cải tạo thế giới khách quan, phục vụ lợi ích của con người.  

Trên cơ sở quy luật chung của nhận thức, đối với mỗi ngành khoa học, quá trình nhận thức đều có các nét đặc thù, phụ thuộc vào đối tượng nhận thức cụ thể. Mỗi khoa học chỉ trở thành một khoa học thực sự khi nó có một hệ thống khái niệm rõ ràng và một phương pháp nghiên cứu có hiệu quả. Từ đây, chúng ta thấy rằng việc nhận thức bản chất của ngôn ngữ và dạy – học ngoại ngữ như một khoa học đặt cơ sở vững chắc cho lí luận, làm nền tảng cho phương hướng giải quyết toàn bộ các vấn đề về dạy và học ngoại ngữ trong trường phổ thông hiện nay.

2. Hoạt động nhận thức trong đào tạo kiến thức chuyên ngành cho giáo viên phổ thông ngoại ngữ.

a. Nét khu biệt giữa hoạt động nhận thức của nhà khoa học và của giáo viên phổ thông ngoại ngữ.

 Việc nghiên cứu hoặc học tập một môn khoa học nhất định sẽ đạt hiệu quả nếu sử dụng chính phương pháp luận của khoa học đó. Ví dụ, có thể tổ chức quá trình học tập của giáo sinh phổ thông ngoại ngữ tương tự như quá trình nghiên cứu của các nhà khoa học và công nghệ. Trên thực tế, giữa hai quá trình này có các nét khu biệt. Để thành công trong việc cập nhật các kiến thức khoa học kĩ thuật và công nghệ cho giáo sinh phổ thông ngoại ngữ, theo quan điểm của chúng tôi, cần xử lí các vấn đề có liên quan tới đặc thù nghề nghiệp và điều kiện làm việc của họ.

* Nhà khoa học phải tìm ra cái mới, giải pháp mới mà trước đây loài người chưa biết, còn giáo sinh ngoại ngữ cần tìm cho bản thân các kiến thức mới về ngoại ngữ và phương pháp học tập, làm việc hiệu quả, chủ yếu là từ người hướng dẫn học tập. Như vậy, việc khám phá của giáo sinh trong quá trình lĩnh hội kiến thức và các phương pháp là cho chính bản thân mình. Ở đây, quan trọng là cung cấp cho giáo sinh các kiến thức về khoa học chuyên ngành và phương pháp nghiên cứu để họ có thể tự thực hiện hoạt động nhận thức trong các lĩnh vực chuyên môn phục vụ hoạt động dạy – học trên thực tiễn sau này.

* Về thời gian, nhà khoa học có thể để nhiều tháng, năm, thậm chí cả cuộc đời mình để khám phá một định luật, xây dựng một thuyết nào đó. Giáo sinh chỉ có một lượng thời gian nhất định để thực hiện nhiệm vụ học tập chính khóa và ngoại khóa. Thông thường, giáo sinh phổ thông ngoại ngữ chưa xác định cho công việc của bản thân trên cơ sở thời gian như một nhà khoa học hoặc chuẩn bị bước vào khoa học. Do vậy,  chúng tôi cho rằng, để thế kỉ XXI thực sự là thế kỉ của tri thức, trong thập kỉ đầu này nên đào tạo cho giáo sinh phổ thông ngoại ngữ – ngành của khoa học xã hội và nhân văn – kiến thức về khoa học thời gian, các phương pháp làm việc khoa học được định vị theo trục thời gian.

* Về phương tiện, nhà khoa học có thiết bị, máy móc tinh vi. Giáo sinh trong điều kiện tài chính hạn hẹp (trừ số ít do được chu cấp) chỉ có các phương tiện học tập đơn giản. Do đó, trong quá trình đào tạo, chúng tôi nghĩ rằng nên cập nhật cho giáo sinh kiến thức sử dụng các phương tiện phục vụ cho giảng dạy ngoại ngữ sau khi ra trường, không phải ở trình độ cơ bản như hiện nay, mà ở cấp độ cao hơn. Riêng đối với công nghệ thông tin, nên đào tạo cho giáo sinh một số phương pháp lập trình nhắm phục vụ tốt cho giảng dạy ngoại ngữ ở phổ thông.

* Yếu tố hết sức quan trọng cần lưu ý: hoạt động khoa học là hoạt động sáng tạo. Nhà khoa học thực hiện bước nhảy vọt trong quá trình nhận thức tự nhiên. Trong hoạt động khoa học của mình, nhà khoa học phải khám phá ra những gì mà trước đó loài người chưa tìm ra; phải nhận ra điều mà trước đó nhân loại chưa nhận thấy. Đây là thực chất của hoạt động sáng tạo. Đối với giáo sinh ngoại ngữ, hoạt động sáng tạo là hết sức cần thiết, đặc biệt là trong hoạt động giao tiếp và dịch thuật. Vì vậy, ngay từ những ngày đầu trên ghế trường đại học, chúng ta cần giúp các em làm quen với cách suy nghĩ khoa học (mà ở phổ thông chưa được đào tạo đầy đủ), tạo ra những yếu tố tiên quyết của hoạt động sáng tạo; cần đặc biệt quan tâm đến việc luyện tập cho giáo sinh vượt qua những khó khăn để đạt được mục đích trong hoạt động khoa học. Chúng ta có thể vận dụng ở đây lí thuyết về “vùng phát triển gần” của Vưgôtski. Theo Vưgôtski, “vùng phát triển gần” là khoảng cách giữa trình độ hiện tại của người học và trình độ phát triển cao hơn, cần vươn tới. Nếu có sự hướng dẫn cụ thể để người học thu hẹp khoảng cách này thì đến một thời điểm nhất định người học sẽ tự vượt qua khoảng trống đó để đạt trình độ cần vươn tới.

Như vậy, để giáo sinh phổ thông ngoại ngữ có thể cập nhật kiến thức của mình vào quá trình dạy và học ngoại ngữ ở thời đại công nghiệp phát triển của thế kỉ XXI, chúng ta cần chuẩn bị cho họ các điều kiện cần thiết để thực hiện thành công hoạt động học tập và nghiên cứu sáng tạo.

b. Phương thức giải quyết vấn đề đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ từ góc độ của khoa học kĩ thuật và công nghệ.

Chúng ta biết rằng hoạt động nhận thức của con người chỉ thực sự bắt đầu khi gặp phải mâu thuẫn giữa trình độ đang có và nhiệm vụ cần giải quyết mà các kiến thức, kĩ năng đang có là chưa đủ để giải quyết vấn đề. Để khắc phục mâu thuẫn, con người phải xây dựng kiến thức mới, phương pháp mới, kĩ năng mới. Trên thực tế, dạy và học nói chung, dạy và học ngoại ngữ nói riêng là hoạt động giải quyết vấn đề nhận thức của người dạy và người học. Quá trình dạy và học ngoại ngữ là quá trình liên tục giải quyết các vấn đề về dạy và học các môn học của chương trình đào tạo cao đẳng, đại học và sau đại học về ngoại ngữ.

Để việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ có kiến thức phù hợp với xu thế phát triển của xã hội và thời đại – kiến thức về khoa học kĩ thuật và công nghệ – đạt hiệu quả, trong phần này, báo cáo đề cập đến mối liên hệ giữa tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học, trong đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ và các phương thức giải quyết vấn đề trong quá trình dạy và học mà giáo sinh cần nắm vững.

b.1. Tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học bao gồm các bước chủ yếu sau:

* Xác định nội dung, yêu cầu và điều kiện của vấn đề cần giải quyết;

* Tổng quan các phương pháp giải quyết vấn đề đặt ra (nếu có) và điểm lại những vấn đề tương tự đang tồn tại;

* Nếu vấn đề nêu trên đã có giải pháp thì liệt kê các giải pháp đã có và lựa chọn một giải pháp thích hợp với vấn đề được nêu;

* Nếu chưa có, phải đề xuất giải pháp mới hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng kiến thức và phương tiện mới để giải quyết vấn đề đã nêu;

* Thử nghiệm vào thực tế để đánh giá hiệu quả, bổ sung và hoàn thiện kết quả được công bố.   

b.2. Đặc điểm giải quyết vấn đề của quá trình đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ:

 Chúng ta có thể hình dung mối quan hệ giữa tiến trình giải quyết vấn đề trong khoa học và trong quá trình đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ được thể hiện ở các điểm sau:

* Về động cơ, nhu cầu: Điểm giống nhau là vấn đề cần giải quyết đã tự xác định mục đích, nhu cầu. Tuy nhiên, sự khác nhau là ở chỗ, nhà khoa học tự nguyện đem hết sức mình để giải quyết bằng được vấn đề đặt ra, còn giáo sinh chưa ở mức độ có ý thức tập trung cao độ và đem hết sức mình để giải quyết vấn đề học tập của bản thân;

* Về năng lực giải quyết vấn đề: Khi chấp nhận giải quyết vấn đề, người giải quyết vấn đề đã có một trình độ kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo nhất định. Với cùng lượng thời gian, vấn đề được giải quyết ở mức độ và cấp độ khác nhau;

* Về điều kiện làm việc: Nhà khoa học có trong tay phải tạo ra các điều kiện và cơ sở vật chất phù hợp để giải quyết vấn đề. Giáo sinh ngoại ngữ chưa đủ điều kiện hoặc chỉ có thể đạt được các điều kiện ở mức độ thấp như sách giáo khoa, đài, băng v.v.

Như vậy, ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ có thể thâm nhập được vào môi trường đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ nếu người học được cập nhật các kiến thức về hoạt động nhận thức thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ.

b.3. Các phương thức giải quyết vấn đề cơ bản:

* Phương thức giải quyết vấn đề theo kiến thức đã biết (bằng phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh). Nếu áp dụng giải quyết vấn đề theo phương thức này thì việc tiếp nhận ngoại ngữ chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ của người học sẽ đạt kết quả khi:

+ sử dụng ngôn ngữ kĩ thuật để giải quyết các bài học có liên quan đến khoa học kĩ thuật và công nghệ;

+ dịch thuật các văn bản khoa học kĩ thuật và công nghệ;

+ tiếp nhận các thuật ngữ kĩ thuật;

+ định hướng nghiên cứu khoa học bằng ngôn ngữ phong cách khoa học.     

* Phương thức nghiên cứu, sáng tạo từng phần: Phương thức này được sử dụng khi nghiên cứu tài liệu mới, vấn đề mới. Ở đây, trực giác đóng vai trò quan trọng. Vấn đề đặt ra là giáo sinh cần được rèn luyện trực giác khoa học để dự đoán một câu trả lời, một giải pháp cho vấn đề đặt ra rồi tìm cách kiểm tra tính đúng đắn của dự đoán đó bằng thực nghiệm. Phương thức này khả quan khi được thực hiện để áp dụng các phương pháp sư phạm trong việc dạy ngoại ngữ phổ thông, trong việc xây dựng và dự đoán hệ thống thuật ngữ kĩ thuật v.v.

* Phương thức sáng tạo tổng hợp: Kiến thức khoa học luôn được tiếp nhận và khái quát theo một trật tự (lôgích) nhất định. Sáng tạo tổng hợp trong khoa học giúp giáo viên phổ thông ngoại ngữ có thể dựa vào kiến thức đã có để tổ chức hoạt động nghiên cứu và dạy – học có hiệu quả.

Thay cho lời kết, chúng tôi muốn khẳng định rằng việc đào tạo giáo viên phổ thông ngoại ngữ của thập kỉ đầu thế kỉ XXI sẽ mang lại hiệu quả nếu được định hướng theo tiến trình phát triển của một xã hội công nghiệp hiện đại và xu thế hội nhập quốc tế của Việt Nam.

Tài liệu tham khảo

1. A.A.Leontiev. Ngôn ngữ như một hiện tượng xã hội. Viện Hàn lâm khoa học Nga, 1976.

2. Bùi Hiền. Phương pháp hiện đại dạy – học ngoại ngữ. Nxb. ĐHQG Hà Nội, 1999.

3. S.Sakovski. Xã hội hóa giao tiếp ngôn ngữ và các vấn đề về giảng dạy tiếng nước ngoài, Moscow, 1987.

4. Đào Hồng Thu. Dạy và học ngoại ngữ ở môi trường không chuyên ngữ. T/c khoa học và công nghệ 4 trường đại học, số 12 tháng 9/1996.

5. Đào Hồng Thu. Về vấn đề “Dạy học ngoại ngữ ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội “. T/c khoa học và công nghệ 4 trường đại học, số 14 tháng 4/1997.

Posted in CÔNG NGHỆ DẠY HỌC (Teaching Technology), NN chuyên ngành | Leave a Comment »

NGHIÊN CỨU LẬP CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TIẾNG VIỆT KĨ THUẬT DÀNH CHO SINH VIÊN KHỐI KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ (2)

Posted by daothu09 on July 26, 2009

9 = NCKH 2000 (2)

Chủ nhiệm đề tài: Đào Hồng Thu

IIITầm quan trọng của tiếng Việt kĩ thuật trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Các luận điểm về mối quan hệ giữa xã hội và ngôn ngữ cho thấy tầm quan trọng của ngôn ngữ nói chung, của ngôn ngữ kĩ thuật nói riêng. Với các điều kiện xã hội – lịch sử cụ thể, ở mỗi quốc gia và mỗi khu vực, trong những giai đoạn phát triển khác nhau, ngôn ngữ có vai trò phát triển cũng rất khác nhau. Ở Việt Nam, trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước hiện nay, ngôn ngữ kĩ thuật mà cụ thể là tiếng Việt kĩ thuật đã tạo nên một bức tranh hết sức phong phú và phức tạp. Có thể nói rằng một khối lượng “ngữ liệu mới” và những phát triển mới đang nảy sinh hàng ngày trước sự tác động của sự phát triển trong xã hội hiện đại. Theo các tác giả của cuốn từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1992 thì trong vòng 5 năm, tính từ khi Việt Nam mở cửa nền kinh tế thị trường, đã xuất hiện trên 2000 đơn vị từ mới, phần nhiều có nguồn gốc vay mượn từ các tiếng nước ngoài. Theo nghiên cứu của chúng tôi, khoảng 70% đơn vị từ mới là các thuật ngữ kĩ thuật và công nghệ. Cho đến nay, lượng đơn vị từ mới là các thuật ngữ kĩ thuật và công nghệ gia tăng một cách đáng kể, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Ở đây, việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ có vai trò đặc biệt quan trọng. Sự phát triển của xã hội công nghiệp hóa đòi hỏi phát triển chức năng của ngôn ngữ dân tộc và cần tạo ra một sự đồng dạng trong hệ thống giao tiếp của các quốc gia có liên quan, tức là sự tiêu chuẩn hóa trên cơ sở có một thái độ chặt chẽ trong việc lựa chọn các yếu tố, ở đây là của hệ thống tiếng Việt kĩ thuật và sự diễn đạt ngôn ngữ kĩ thuật.

Chúng ta thấy rất rõ rằng chính xã hội công nghiệp, trong điều kiện giao lưu quốc tế rộng rãi giữa các quốc gia đang đem lại cho ngôn ngữ mỗi dân tộc những phát triển mới và những giao thoa mới.

Như vậy, vai trò của tiếng Việt kĩ thuật đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là vô cùng to lớn. Tiếng Việt kĩ thuật đóng góp trực tiếp vào những tiến bộ của khoa học và kĩ thuật hiện đại và chịu tác động to lớn của sự phát triển của các ngành kĩ thuật hiện đại. Đồng thời, nó làm giàu thêm cho tiếng Việt.

IV – Dự đoán vai trò của tiếng Việt kĩ thuật ở thế kỉ XXI

Vào những thập kỉ đầu của thế kỉ XXI, khi xã hội công nghiệp được xuất hiện ở Việt Nam thì tiếng Việt vẫn tiếp tục giữ vai trò quan trọng là “cơ sở hạ tầng”, góp phần vào việc cấu tạo một xã hội nông nghiệp lạc hậu thành xã hội công nghiệp hiện đại. Trong thế kỉ XXI, tiếng Việt vẫn tiếp tục là cơ sở “nhập” các từ ngữ và các khái niệm của thời kì phát triển kinh tế mới ở Việt Nam, nhất là các ngành khoa học, công nghệ then hốt cho sự phát triển này. Tiếng Việt vẫn giữ vai trò ngày càng quan trọng của sự nghiệp giáo dục và nâng cao dân trí. Điểm mới là tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt kĩ thuật, sẽ tham gia tích cực vào các quá trình hoạt động của xã hội công nghiệp hiện đại: vào các lĩnh vực hoạt động của khoa học kĩ thuật và công nghệ, vào việc đào tạo các ngành nghề mới, vào việc soạn thảo các chương trình công nghệ mới trên máy vi tính v.v.

Ở thế kỉ XXI, tuy phải “cạnh tranh” với một số tiếng nước ngoài, đặc biệt là với tiếng Anh, tiếng Việt kĩ thuật vẫn luôn có vai trò quyết định trong giao tiếp chuyên môn và trong việc giữ gìn, bảo tồn các di sản văn hóa của mình.

V – Lược khảo các sách giáo khoa tiếng Việt và tập làm văn phổ thông

Hệ thống sách giáo khoa tiếng Việt được tham khảo bao gồm các sách giáo khoa tiếng Việt và bài tập từ lớp 1 đến lớp 11, sách giáo khoa tập làm văn các lớp 10, 11, 12.

Qua nghiên cứu và khảo sát, chúng tôi thấy rằng:

– Lượng từ và câu có liên quan đến văn hóa khoa học kĩ thuật và công nghệ xuất hiện không đồng đều, không liên tục trong cả bộ sách đã nêu. Các sách có sử dụng từ và câu thuộc phong cách ngôn ngữ khoa học kĩ thuật là:

+ Tiếng Việt lớp 1, tập 1&2 dưới dạng các từ, câu, bài viết, bài thơ có liên quan đến cuộc sống hàng ngày như: cái đe, ô tô, ca nô, xe lu, máy bay, xe cộ, máy cày, nhà máy, trái đất …

Tí đi ô tô.

Em đi máy bay.

+ Tiếng Việt lớp 2 tập 1, lớp 3 tập 2 dưới dạng bài viết, bài thơ về ngành nghề liên quan đến khoa học kĩ thuật và công nghệ (văn bản tham khảo số 1,2 phần phụ lục)

– Kiến thức về văn bản khoa học được giới thiệu ở các sách giáo khoa:

+ Tiếng Việt lớp 4 tập 2 dưới dạng giới thiệu một số thuật ngữ và khái niệm về khoa học và kĩ thuật (văn bản tham khảo số 3 phần phụ lục)

+ Tiếng Việt lớp 9 dưới dạng giới thiệu sơ lược sự phân loại và đặc điểm chung của văn bản khoa học. Phần luyện tập không có bài tập cho văn bản khoa học kĩ thuật và công ghệ (văn bản tham khảo số 4, 5 phần phụ lục) 

+ Tiếng Việt lớp 11 dưới dạng giới thiệu phong cách ngôn ngữ khoa học một cách ngắn gọn (01 tiết học). Phần bài tập có 01 câu hỏi về so sánh với phong cách ngôn ngữ hính luận (văn bản tham khảo số 6, 7 phần phụ lục).

Như vậy, lượng kiến thức về ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và công nghệ được phân bố trong chương trình phổ thông là không đáng kể, chưa cụ thể và không đồng bộ. Việc dạy soạn thảo các thể loại văn bản khoa học kĩ thuật hầu như không được đặt ra. Điều này càng khẳng định cần thiết phải có sự hiện diện của tiếng Việt kĩ thuật trong chương trình đào tạo cao đẳng và đại học tại trường Đại họ Bách khoa Hà Nội.

VI – Lược khảo một số sách tiếng Việt cơ bản đang được sử dụng để giảng dạy tại trường KHXH&NV và các trường đại học ngoại ngữ

Hiện nay, số lượng sách tiếng Việt được sử dụng để giảng dạy và tham khảo dành cho sinh viên khối KHXH&NV là khá phong phú và đa dạng. Đây là chương trình tiếng Việt thực hành cho sinh viên thuộc giai đoạn đại học đại cương (đề mục tham khảo phần phụ lục). 

Lượng kiến thức về tiếng Việt ở giai đoạn đại học đại cương, có thể nói, là cần thiết không chỉ đối với sinh viên thuộc khối KHXH&NV, mà còn rất cần đối với sinh viên thuộc khối KHXH&CN. Việc cập nhật cơ sở tiếng Việt khoa học cho các đối tượng là sinh viên cao đẳng và đại học khối KHKT&CN là không thể thiếu trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Các vấn đề của tiếng Việt, đặc biệt là tiếng Việt chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ, về câu như câu sai, chính tả, dấu câu, viết tắt, phương pháp diễn đạt v.v., về văn bản đều chưa được đề cập đến trong chương trình phổ thông và được trình bày rất cụ thể trong chương trình đại học đại cương thuộc khối KHXH&NV.

VII – Thực trạng việc sử dụng tiếng Việt trong trường đại học kĩ thuật và công nghệ như trường ĐHBK Hà Nội và tính cấp bách của chương trình tiếng Việt dành cho sinh viên khối KHKT&CN

Ngôn ngữ chuyên ngành kĩ thuật, cũng như ngôn ngữ phổ thông, được biểu đạt qua ngôn bản, văn bản. Tuy nhiên, điểm khác biệt là ngôn ngữ kĩ thuật còn có thể được biểu đạt qua các công thức, hình vẽ, mô phỏng và đòi hỏi sự rõ ràng, chính xác cao. Nói cách khác, văn phong khoa học – công nghệ có những đặc điểm chuyên ngành phân biệt cơ bản với các văn phong khác.

Cách đây hơn ba thập kỉ, khi nhấn mạnh vai trò và tác dụng của tiếng Việt trong các ngành KHKT ở trường ĐHBK Hà Nội, GS. Phạm Đồng Điện đã viết: “… Qua hơn 10 năm giảng dạy bằng tiếng Việt ở trường ĐHBK Hà Nội, chúng tôi càng thấy rõ việc dùng tiếng Việt có một ý nghĩa rất to lớn và đã góp phần quan trọng vào việc đào tạo cán bộ kĩ thuật cho tổ quốc, vào việc phát triển khoa học kĩ thhuật nước nhà đến những trình độ cao nhất, cũng như vào việc truyền bá khoa học – kĩ thuật trong nhân dân. Trong việc xây dựng ngôn ngữ kĩ thuật bằng tiếng Việt, chúng tôi không thấy rõ ngay từ đầu tất cả giá trị của tiếng Việt. Nhưng dần dần cho đến bây giờ, sau 10 năm, nhìn lại chúng tôi mới thấy tự hào về tiếng Việt, mà càng tự hào về tiếng nói chúng ta, chúng tôi càng tự hào về dân tộc chúng ta …” (Trích “Dùng tiếng Việt trong các ngành khoa học – kĩ thuật ở trường ĐHBK Hà Nội”, nxb.Hà Nội, 1967).

Ngôn ngữ là một thiết chế đặc biệt của xã hội, gắn bó khăng khít với xã hội, vì vậy, sự phát triển của xã hội làm cho ngôn ngữ phát triển theo. Do đó, việc giữ gìn một ngôn ngữ không đồng nghĩa với việc giữ gìn một công ccụ bình thường trong đời sống, mà luôn luôn hàm nghĩa phát triển ngôn ngữ đó. Như vậy, giữ gìn trong sáng của tiếng Việt không thể tách rời tiếng Việt.

Hiện nay, trog quá trình hội nhập và ở giai đoạn công ghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt lại càng cần thiết. Ở đây, việc phát triển và chuẩn hóa tiếng Việt khoa học là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong việc sáng tạo các hệ thống thuật ngữ khoa học – công nghệ chuyên ngành tiếng Việt (vay mượn từ tiếng Hán, Pháp, Nga, Anh v.v.).

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy cần nhấn mạnh rằng chuẩn hóa ngôn ngữ cần có sự định hướng và tham gia một cách có ý thức của con người vào quá trình phát triển của ngôn ngữ. Tiếng Việt có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục ở các cấp từ phổ thông đến đại học, nâng cao dân trí và truyền bá các kiến thức. Để nắm vững và nâng cao kiến thức về khoa học kĩ thuật, điều tất nhiên là sinh viên cần phải có kiến thức về ngôn ngữ của khoa học kĩ thuật, tức là tiếng Việt khoa học kĩ thuật và công nghệ (gọi tắt là tiếng Việt kĩ thuật).

Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy rằng sinh viên thuộc khối KHKT như sinh viên ĐHBK Hà Nội thường có số điểm thấp về môn tiếng Việt và tập làm văn ở các năm học phổ thông. Với lượng kiến thức về tiếng Việt chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ không đáng kể. Sau khi nhập trường, từ năm thứ nhất đến khi ra trường, sinh viên khối khoa học kĩ thuật không được bổ trợ kiến thức về ngôn ngữ kĩ thuật (tiếng Việt kĩ thuật) nên thường sử dụng tiếng Việt để viết báo cáo khoa học hoặc luận văn tốt nghiệp một cách tự phát, không được rèn luyện theo chuẩn mực của thể loại văn phong, dẫn tới việc biểu đạt nội dung khoa học của báo cáo hoặc luận văn không đạt hiệu quả như nó phải có. Chúng ta có thể tham khảo về cách sử dụng câu của sinh viên khối khoa học kĩ thuật trong một vài ví dụ sau:

1. Những thuận lợi của việc tạo xỉ trong lò điện quang hồ đã được chứng minh. Bao gồm các yếu tố sau: …. (câu thiếu chủ ngữ). Sự tăng chiều dài hồ quang yếu tố đó cho phép tăng điện thế hồ quang lớn hơn, bởi vậy đưa đến hiện tại tăng khả năng di chuyển nhiệt tới bể chứa, với một ít năng lượng kết hợp với tia phát xạ bị mất để bảo vệ vật liệu tới một giới hạn và che những tia phát xạ sáng rực lên và sinh ra nitơ. (trật tự câu lủng củng và sai ngữ pháp) (Bài tập chuyên ngành)

2. Sự phát triển của ALARC – PC, là cần thiết cho sự hiểu biết cơ bản ảnh hưởng của ô xy trong đó nó được ứng dụng trong lò điện hồ quang2 nguyên lí trên là nguyên lí nhiệt động học và phản ứng do động lực. (câu rườm rà và tối nghĩa) (Bài tập dịch chuyên ngành)

3. Đối với quá trình cháy of than … (đoạn câu không chuẩn Việt) (Bài tập dịch chuyên ngành)

Xuất phát từ những bức xúc về trình độ tiếng Việt của sinh viên khối KHKT&CN, chương trình Tiếng Việt kĩ thuật được soạn thảo trong đề tài này dưới dạng đề cương. Nếu được triển khai, giáo trình cho môn học Tiếng Việt kĩ thuật sẽ được biên soạn nhằm giúp sinh viên ĐHBK Hà Nội tiếp nhận được kiến thức về ngôn ngữ kĩ thuật, các phương pháp và thủ thuật đặt câu chuẩn, tạo văn bản một cách rõ ràng, chính xác, tạo điều kiện cho việc nâng cao kiến thức chuyên môn và tiếp nhận chuyên môn có hiệu quả, giúp sinh viên đạt kết quả trong việc dịch thuật các văn bản chuyên ngành từ một ngoại ngữ sang tiếng mẹ đẻ và ngược lại.

VIII – Đề cương chương trình môn học Tiếng Việt kĩ thuật dành cho sinh viên khối KHKT & CN (2 đvht)

A – TỔNG QUAN VỀ TIẾNG VIỆT

1. Cơ sở nguồn gốc tiếng Việt

2. Chức năng xã hội của tiếng Việt

3. Những đặc trưng loại hình của tiếng Việt về âm, từ, ngữ, câu, văn bản, văn phong

4. Vấn đề chuẩn hóa tiếng Việt

5. Mục tiêu và nhiệm vụ của môn tiếng Việt kĩ thuật

B – ĐẠI CƯƠNG VỀ VĂN BẢN

1. Khái niệm và các đặc trưng cơ bản của văn bản

2. Giản yếu về một số loại văn bản

         a) Văn bản khoa học kĩ thuật

         b) Văn bản nghị luận

         c) Văn bản hành chính

C – PHÂN TÍCH VÀ TẠO LẬP VĂN BẢN

1. Phương thức tóm tắt một tài liệu khoa học và kĩ thuật

2. Phương thức tạo lập một văn bản khoa học và kĩ thuật

         a) Xác định các nhân tố giao tiếp của văn bản

         b) Lập đề cương cho một văn bản

         c) Viết đoạn văn và văn bản

         d) Kiểm tra, sửa chữa và hoàn thiện văn bản

D – ĐẶT CÂU TRONG VĂN BẢN

1. Yêu cầu về câu trong một văn bản khoa học và kĩ thuật

2. Đặc điểm về câu trong văn bản khoa học và kĩ thuật, văn bản nghị luận và văn bản hành chính

3. Các phương pháp xây dựng một đoạn văn

4. Thực hành các phương pháp rèn luyện câu

         a) Mở rộng và rút gọn câu

         b) Tách và ghép câu

         c) Thay đổi trật tự các thành phần câu

         d) Chuyển đổi các kiểu câu

         e) Chuyển đổi cách diễn đạt trong câu

         f) Xây dựng đoạn văn mạch lạc

E – Chữa lỗi câu

         a) Lỗi về cấu tạo ngữ pháp (chủ yếu lỗi dùng từ trong câu và dùng các công cụ ngữ pháp để tạo câu)

         b) Lỗi về quan hệ ngữ nghĩa

         c) Lỗi về câu thiếu thông tin

         d) Lỗi về dấu câu

         e) Các loại lỗi về liên kết, mạch lạc, lôgíc và lập luận

         f) Lỗi về sử dụng phong cách ngôn ngữ chức năng.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Tiếng Việt và dạy đại học bằng tiếng Việt. TT, Nxb.KHXH, Hà Nội, 1967.

2. Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên). Một số vấn đ ngôn ngữ học Việt Nam. Nxb.ĐH&THCN, Hà Nội, 1981.

3. Nguyễn Kim Thản và những người khác. Tiếng Việt trên đường phát triển. Nxb.KHXH, 1982.

4. Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ. Nxb.KHXH, Hà Nội, 1984.

5. Nguyễn Tài Cẩn (chủ biên). Ngôn ngữ trong xã hội công nghiệp hóa. Hà Nội, 1996.

6. Lại Văn Toàn (chủ biên). Việt ngữ học ở nước ngoài. Hà Nội, 1998.

7. Ngôn ngữ và văn hóa – 900 năm Thăng Long – Hà Nội. Kỉ yếu Hội thảo của Hội ngôn ngữ học Hà Nội và Khoa ngôn ngữ trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, 2000.

8. Các sách giáo khoa Tiếng Việt từ lớp 1 đến lớp 10.

9. Các sách giáo khoa Tập làm văn lớp 10, 11, 12.

10. Các sách giáo khoa và tài liệu tham khảo Tiếng Việt thực hành (chương trình dành cho đại học đại cương).

11. Trần Ngọc Thêm. Hệ thống liên kết văn bản tiếng Việt. Nxb.Giáo dục, 1992.

12. Các bài báo, tạp chí về ngôn ngữ 1998, 1999.

13. Các sách bàn về văn bản khoa học kĩ thuật – công nghệ.

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

NGHIÊN CỨU LẬP CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC TIẾNG VIỆT KĨ THUẬT DÀNH CHO SINH VIÊN KHỐI KHOA HỌC KĨ THUẬT VÀ CÔNG NGHỆ (1)

Posted by daothu09 on July 26, 2009

 

9 = NCKH 2000 (2)

Chủ nhiệm đề tài: Đào Hồng Thu

A – TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC

         I. Tình hình nghiên cứu trong nước:

Ngôn ngữ – phương tiện giao tiếp và tư duy quan trọng nhất của loài  người –  luôn gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, chịu tác động to lớn và mạnh mẽ của các tiến trình phát triển của xã hội.

Tiếng Việt – ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam – không nằm ngoài phạm vi các qui luật trên. Đã có rất nhiều bài báo, các công trình nghiên cứu về tầm quan trọng, chức năng và sự phát triển của tiếng Việt trên các bình diện khác nhau, đặc biệt là trong văn học và nghệ thuật. Trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật, ngay từ những năm 60 của thế kỉ XX đã có những bài báo đề cập đến chức năng và tầm quan trọng của nó như “Tiếng Việt trong khoa học cơ bản” (Ngụy Như Kontum), “Xây dựng thuật ngữ khoa học bằng tiếng Việt” (Lê Khả Kế), “Dùng tiếng Việt trong các ngành khoa học kĩ thuật ở trường Đại học Bách Khoa Hà Nội” (Phạm Đồng Điện) …

Các công trình nghiên cứu cho thấy ngôn ngữ dân tộc phản ánh rất rõ nét tiến trình phát triển xã hội của dân tộc sử dụng ngôn ngữ đó. Với một nền khoa học và kĩ thuật non trẻ thời ban đầu những năm 60 thế kỉ XX, tiếng Việt trong khoa học kĩ thuật được nghiên cứu và sử dụng mới chỉ ở dạng các thuật ngữ chuyên ngành với một số từ điển thuộc lĩnh vực khoa học kĩ thuật.

Tiếng Việt thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ chỉ bắt đầu phát triển khi đất nước vào giai đoạn mở cửa và thực sự phát triển khi Việt Nam tiến hành công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, các vấn đề về ngôn ngữ thuộc phạm vi khoa học và công nghệ được đề cập còn chưa nhiều. Mặc dù việc định hướng cho giáo dục ngôn ngữ thuộc lĩnh vực khoa học và công nghệ còn chưa rõ nét, song cũng đã có những báo cáo khoa học làm tiền đề cho một giải pháp. Đáng lưu ý là tuyển tập chuyên đề “Ngôn ngữ trong xã hội công nghiệp hóa” do Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia xuất bản năm 1996.

II. Tình hình nghiên cứu ngoài nước:

Tiếng Việt ngày càng có vị trí xứng đáng trên trường quốc tế. Cho đến nay, đã có rất nhiều nước trên thế giới có cơ sở nghiên cứu giảng dạy tiếng Việt. Ở một số nước như Pháp, Mĩ, Úc, tiếng Việt còn được khuyến khích dạy ở các trường phổ thông. Một số từ điển song ngữ đã được xuất bản ở Nhật, Trung Quốc, Nga, Pháp, Mĩ, Cuba.

Một vấn đề hiển thực là môn tiếng Việt có chỗ đứng rất sớm ở một số nước. Ngay từ năm 1949, bộ môn tiếng Việt đã xuất hiện ở khoa Đông Phương, Đại học Bắc Kinh. Ở Pháp, Bộ Giáo dục vẫn tiếp tục công nhận tiếng Việt là một trong những ngoại ngữ mà học sinh có thể chọn ở bậc phổ thông … Ở Trung Quốc, tiếng Việt được dạy và được nghiên cứu ở nhiều trường đại học và viện nghiên cứu, không chỉ tập trung ở Bắc Kinh mà còn ở nhiều tỉnh, nhất là các tỉnh phía Nam. Ở Nhật Bản, học tiếng Việt đang là thời thượng. Hàn Quốc đã dạy tiếng Việt từ 30 – 40 năm nay. Ở Liên Xô, tiếng Việt đã được bắt đầu dạy như một ngoại ngữ từ những năm 50 thế kỉ XX.

GS.Serge Genest (Đại học Tổng hợp Laval – Canada) đã nhận xét: “Những thay đổi quan trọng đang diễn ra ở Việt Nam khiến cho ngày càng có nhiều người muốn tiếp xúc với đất nước này. Dù là vì những mục đích trao đổi văn hóa hay kinh tế thì những mối quan hệ muốn phát triển với những thành viên của một nền văn hóa khác khiến ta có một sự hiểu biết, dù là hạn chế về ngôn ngữ của dân chúng nước này.” (Avant – Propos, Parlons Vietnamien Gérac, Université Laval 1995).

Như vậy, trên bình diện chung, tiếng Việt đã và đang được nghiên cứu, giảng dạy ở phạm vi ngày càng phát triển cả trong và ngoài nước.

B – MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

– Dẫn nhập các khái niệm “ngôn ngữ kĩ thuật” và “tiếng Việt kĩ thuật”;

– Tổng quan vấn đề nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ kĩ thuật, tiếng Việt kĩ thuật trong giai đoạn từ 1965 đến nay;

– Nghiên cứu tầm quan trọng của tiếng Việt kĩ thuật trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;

– Dự đoán vai trò của tiếng Việt kĩ thuật ở thế kỉ XXI;

– Lược khảo các sách giáo khoa tiếng Việt và tập làm văn phổ thông hiện nay;

Lược khảo một số sách giáo khoa tiếng Việt thực hành cơ bản đang được sử dụng đ giảng dạy trường Đại học KHXH&NV và các trường Đại học Ngoại ngữ.

Nghiên cứu thực trạng sử dụng tiếng Việt trong trường Đại học Kĩ thuật và Công nghệ như ĐHBK Hà Nội và tính cấp bách của chương trình tiếng Việt kĩ thuật dành cho sinh viên khối khoa học kĩ thuật và công nghệ.

– Lập chương trình môn học tiếng Việt kĩ thuật dành cho sinh viên khối khoa học kĩ thuật và công nghệ (2 đơn vị học trình).

C – TÓM TẲT NỘI DUNG CỦA ĐỀ TÀI VÀ QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN

I. Dẫn nhập các khái niệm ngôn ngữ kĩ thuật và tiếng Việt kĩ thuật

Trong khuôn khổ đề tài và để sử dụng rộng rãi các thuật ngữ khoa học theo góc độ ngôn ngữ học, tác giả sử dụng hai thuật ngữ trên để chỉ ngôn ngữ và tiếng Việt được nghiên cứu, sử dụng chỉ trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ.

1) Vấn đề ngôn ngữ và tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ chủ yếu do các nhà lãnh đạo hoặc quản lí khối ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ đề cập tới. Trong những năm 60 thế kỉ XX, các nhà khoa học thuộc khối khoa học và kĩ thuật đã sử dụng thuật ngữ “tiếng Việt trong khoa học cơ bản” (Ngụy Như Kontum), “tiếng Việt trong các ngành khoa học kĩ thuật” (Phạm Đồng Điện), “thuật ngữ khoa học kĩ thuật bằng tiếng Việt” (Lê Khả Kế). Trong tuyển tập “Một số vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam” (Nxb. ĐH&THCN, Hà Nội, 1981), tác giả bài “Lược thuật Hội nghị Ngôn ngữ học trong các trường đại học” Nguyễn Khắc Thi đã sử dụng thuật ngữ “ngôn ngữ khoa học kĩ thuật” trong bài báo “Tiếp nhận và Việt hóa từ ngữ tiếng nước ngoài” (trích trong “Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ”, nxb. KHXH, Hà Nội, 1994).

2) Trong tất cả các loại từ điển tiếng Việt cho đến năm 2000 chưa có định nghĩa cho thuật ngữ “ngôn ngữ kĩ thuật”, “tiếng Việt kĩ thuật”, mặc dù đã có định nghĩa cho ngôn ngữ hình thức, ngôn ngữ văn học, ngôn ngữ điện ảnh …

Để dẫn nhập các khái niệm “ngôn ngữ kĩ thuật” và “tiếng Việt kĩ thuật” có hiệu quả, cần xuất phát từ các định nghĩa về ngôn ngữ và tiếng Việt một cách khái quát. Ở đây, tác giả trình bày cụ thể các định nghĩa trong ba loại từ điển điển hình tại các thời kì phát triển xã hội khác nhau:

a) Từ điển Việt Nam phổ thông, Đào Văn Tập, nhà sách Vĩnh Bảo – Sài Gòn, 1951

Ngôn ngữ: Nói năng (khoa Ngôn ngữ)

Tiếng: – Âm thanh phát ra (tiếng động, tiếng đàn)

           – Ngôn ngữ (tiếng Việt, tiếng Anh, tiếng Nga)

           – Lời phê bình của công chúng (tiếng hay, tiếng xấu)

b) Từ điển tiếng Việt, Văn Tân (chủ biên), nxb.KHXH, Hà Nội, 1991

Ngôn ngữ:

– Công cụ biểu thị ý nghĩ dùng để giao tiếp giữa người và người, thực hiện nhờ hệ thống những phương tiện âm thanh, từ ngữ và ngữ pháp. (Người là giống duy nhất có ngôn ngữ)

– Cách sử dụng chức năng nói trên, thường biểu hiện của phẩm chất đạo đức, trình độ văn hóa …. (Phải luôn chú ý đến ngôn ngữ cử chỉ)

c) Từ điển tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên), nxb.KHXH, Trung tâm từ điển học, Hà Nội – Đà Nẵng, 2000

Ngôn ngữ:

– Hệ thống những âm, những từ và những qui tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau. (Tiếng Nga và tiếng Việt là hai ngôn ngữ rất khác nhau.)

– Hệ thống kí hiệu dùng làm phương tiện để diễn đạt, thông báo. (Ngôn ngữ điện ảnh. Ngôn ngữ hội họa. Ngôn ngữ của loài ong)

– Cách thức, nghệ thuật hay trình độ sử dụng ngôn ngữ có tính chất riêng. (Ngôn ngữ Nguyễn Du. Ngôn ngữ trẻ con. Ngôn ngữ báo chí)

Tiếng:

– Cái mà tai có thể nghe được (Tiếng đàn. Tiếng cười)  

– Âm tiết trong tiếng Việt, về mặt đơn vị thường có nghĩa, dùng trong chuỗi lời nói (Tiếng được tiếng mất. Thơ lục bát gồm 14 tiếng.)

– Ngôn ngữ cụ thể nào đó (Tiếng Việt. Biết nhiều thứ tiếng)

– Giọng nói riêng của một người hay cách phát âm riêng của một vùng nào đó (Tiếng trầm trầm. Tiếng miền Nam.)

– Lời nói của một cá nhân nào đó (Có tiếng người)  

– Lời bàn tán, khen chê, sự đánh giá trong dư luận xã hội (Tiếng lành đồn xa, tiếng dữ đồn xa. Bưởi ngon có tiếng.)

3) Trên cơ sở các mục đã trình bày trên, chúng ta có thể đưa ra các khái niệm sau:

Ngôn ngữ kĩ thuật:

– Hệ thống các âm, các từ và các qui tắc kết hợp chúng mà những người trong cùng một cộng đồng và cùng một lĩnh vực hoạt động khoa học kĩ thuật và công nghệ dùng làm phương tiện để giao tiếp với nhau. (Tiếng Việt trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ là ngôn ngữ kĩ thuật)

– Hệ thống kí hiệu dùng làm phưong tiện để diễn đạt, thông báo (Ngôn ngữ hình học. Ngôn ngữ toán.)

         Tiếng Việt kĩ thuật:

Ngôn ngữ của dân tộc Việt Nam được sử dụng trong lĩnh vực khoa học kĩ thuật và công nghệ (Tiếng Việt kĩ thuật thực hành)

II. Tổng quan vấn đề nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ kĩ thuật, tiếng Việt kĩ thuật trong giai đoạn từ 1965 đến nay

         – Từ 1965 đến 1975:

         Đối với ĐHBK Hà Nội, ngay từ khi thành lập trường, việc dùng tiếng Việt để giảng dạy là đương nhiên. Tuy nhiên, khó khăn là ở chỗ cơ sở của một hệ thống thuật ngữ bằng tiếng Việt gần như không có. Với một nền kĩ thuật còn lạc hậu, các thuật ngữ kĩ thuật ít về số lượng, thiếu khoa học về chất lượng. Phần lớn thuật ngữ kĩ thuật là từ Hán – Việt, thiếu tính chất Việt Nam hoặc là từ tiếng Việt nhưng thiếu độ chính xác về khoa học.

         Bắt đầu từ năm 1965, trong hoàn cảnh chiến tranh chống Mĩ cứu nước, Đảng và Chính phủ đã chủ trương chuyển hướng giáo dục, quyết tâm nâng cao chất lượng giảng dạy, làm cho lí luận đi đôi với thực hành, giáo dục sát với thực tế chiến đấu và sản xuất.

         Để thực hiện chủ trương đúng đắn trên và để là cơ sở truyền thụ kiến thức về kĩ thuật, cán bộ giảng dạy các bộ môn kĩ thuật đã làm việc hết sức trách nhiệm để xây dựng được một hệ thống thuật ngữ kĩ thuật cơ bản bằng cách dựa vào bản chất từng hiện tượng, tính chất, nguyên tắc và công dụng từng thiết bị để lựa chọn từng thuật ngữ cho phù hợp.

         Có thể nói rằng trong giai đoạn này, cán bộ khối khoa học kĩ thuật đã rất thành công trong việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ khoa học kĩ thuật bằng tiếng Việt ở mức độ Danh từ kĩ thuật. Đây là một bước ngoặt lớn trong sự phát triển xã hội của Việt Nam.

– Từ 1976 đến 1990:

Đây là giai đoạn đất nước hoàn toàn độc lập và thống nhất. Ở giai đoạn này, vấn đề giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt trên con đường phát triển được đặt lên hàng đầu trong lĩnh vực ngôn ngữ. Biện pháp chủ yếu là tiếng Việt phải được chuẩn hóa để phục vụ có hiệu quả cho ba cuộc cách mạng và các nhiệm vụ cụ thể của đất nước trong thời kì tái thiết. Các hội nghị khoa học về ngôn ngữ đã được tổ chức tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Trong lĩnh vực nghiên cứu và giảng dạy tiếng Việt, vấn đề chuẩn hóa và thống nhất hệ thống thuật ngữ khoa học kĩ thuật được đặc biệt chú ý. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã chỉ thị: “Phải giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và làm cho tiếng Việt ngày càng phát triển, có khả năng thích nghi với sự phát triển của thời đại, đặc biệt là sự phát triển của khoa học và kĩ thuật” (Phạm Văn Đồng, 1969).

Trong giai đoạn phát triển này, vấn đề nóng bỏng được đặt ra trên phạm vi cả nước là xây dựng, thống nhất và chuẩn hóa hệ thống ngôn ngữ khoa học kĩ thuật và liên quan là vấn đề mượn từ và âm của các ngôn ngữ khác, trong đó có vấn đề phiên chuyển từ ngữ khoa học nước ngoài.

– Từ 1991 đến nay:

Đây là thời kì mở cửa của Việt Nam theo Nghị quyết TW2 của Đảng. Tiếp theo là công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Cùng với sự phát triển về kinh tế và xã hội, ngôn ngữ dân tộc bước vào giai đoạn mới. Tiếng Việt kĩ thuật không còn dừng lại ở các thuật ngữ riêng biệt mà đã có nhiều văn bản dưới dạng bài dịch từ tiếng Anh, các báo cáo khoa học chuyên ngành. Tuy nhiên, cần phải nói rằng cách hành văn theo phong cách khoa học kĩ thuật và công nghệ của sinh viên, học viên và không ngoại trừ của một số bộ phận cán bộ khoa học kĩ thuật và công nghệ còn chưa khoa học, chưa trong sáng. Nhiều thuật ngữ khoa học kĩ thuật được sử dụng một cách tùy tiện, không theo chuẩn mực nhất định. Các hội nghị về ngôn ngữ ở giai đoạn này được tổ chức khá phong phú về hình thức và nội dung, song chưa có những nghiên cứu đầy đủ về ngôn ngữ kĩ thuật và tiếng Việt kĩ thuật, chưa có giải pháp cho giáo dục ngôn ngữ kĩ thuật và tiếng Việt kĩ thuật trong trường phổ thông và đại học.  

Posted in NN chuyên ngành | Leave a Comment »

Chương trình tiếng Anh chuyên ngành công nghệ hóa học – thực phẩm – sinh học – vật liệu – môi trường

Posted by daothu09 on July 22, 2009

Đào Hồng Thu (chủ biên)

5 = TACN 1998I. MỤC TIÊU VÀ CÁC NGUYÊN TẮC CƠ BẢN

 1. Chương trình tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ hóa học – Thực phẩm – Sinh học – Vật liệu – Môi trường (CNHH – TP – SH – VL – MT) dành cho hệ đào tạo Cử nhân tiếng Anh chuyên ngành của Trường Đại học Bách khoa Hà nội tuân thủ mục tiêu đào tạo của Chương trình đào tạo Cử nhân ngoại ngữ chuyên ngành Công nghệ – Kỹ thuật và được xây dựng trên cơ sở những quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về thời lượng và khối lượng kiến thức cần đạt được ở giai đoạn đào tạo Đại học tiếng Anh chuyên ngành đối với nhóm ngành đào tạo tiếng nước ngoài.

2. Căn cứ vào khung chương trình tiếng Anh chuyên ngành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, vào điều kiện thực tế của trường Đại học Bách khoa Hà nội, chương trình tiếng Anh chuyên ngành CNHH – TP – SH – VL – MT này quy định khối lượng kiến thức tiếng Anh cho giai đoạn đào tạo tiếng Anh chuyên ngành đã nêu trên là 24 ĐVHT, tương đương với 570 giờ thực học trên lớp và 30 giờ trên lớp dành cho thi và kiểm tra, tổng cộng là 600 giờ trên lớp.

3. Chương trình này là chương trình tiếp nối các chương trình tiếng Anh cơ bản và kết nối của quá trình đào tạo Cử nhân ngoại ngữ chuyên ngành tại trường Đại học Bách khoa Hà nội, đòi hỏi người học đã hoàn thành giai đoạn đào tạo tiếng Anh cơ bản và kết nối gồm 48 ĐVHT, tương đương với trên 1200 tiết thực học trên lớp với trình độ Proficiency theo cách phân chia quốc tế về trình độ sử dụng tiếng Anh được áp dụng trong chương trình giáo dục Đại học đại cương của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Việc đánh giá trình độ trên thông qua các kết quả thi cuối học kỳ và kết thúc năm học. Nếu chưa đạt yêu cầu, người học phải thi lại (theo qui định chung của Bộ) những môn học dưới điểm chuẩn hoặc phải theo học khóa sau để hoàn thành được các yêu cầu của quá trình học tiếng Anh chuyên ngành ở cấp độ I và cấp độ II.

4. Chương trình này được soạn theo chế độ học phần. Vì vậy, sau khi đã hoàn thành giai đoạn cơ bản và kết nối, người học có kết quả giỏi và xuất sắc có thể dự thi để vượt học phần và theo học chương trình đào tạo tiếng Anh chuyên ngành của học phần tiếp theo với số học phần được phép vượt không quá 50% tổng số ĐVHT quy định của chương trình này.

5. Thi và kiểm tra: Trong quá trình học tập, sau mỗi ĐVHT đều có kiểm tra đánh giá kiến thức, kỹ năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành. Có thể kiểm tra từng kĩ năng đơn lẻ hoặc tổng hợp toàn bộ các kĩ năng nói, nghe, đọc, viết và dịch thuật (dịch viết và nói từ tiếng Anh sang tiếng mẹ đẻ ở mức độ c sở).

6. Chương trình tiếng Anh chuyên ngành CNHH – TP – SH – VL – MT này quy định:

         – Mục tiêu và các nguyên tắc cơ bản;

         – Các yêu cầu về khả năng sử dụng ngôn ngữ và khả năng sử dụng các thủ thuật cần có trong cách hành văn đơn giản và giao tiếp bằng tiếng Anh chuyên ngành đã được học;

         – Nội dung môn học bao gồm: các chủ điểm và ngữ pháp tiếng Anh chuyên ngành CNHH – TP – SH – VL – MT, các bài tập theo chủ đề luyện kĩ năng kĩ xảo và các chuyên đề tổng kết cho từng học phần thuộc khối chuyên ngành nói trên. 

         – Khối lượng kiến thức được phân chia theo từng học phần;

         – Số lượng từ vựng tối thiểu cần đạt được;

         – Ngữ pháp tối thiểu cần nắm và sử dụng thông thạo;

         – Các kí hiệu và công thức toán, lý, hóa có liên quan tới khối chuyên ngành này cần nắm vững và sử dụng thông thạo;

         – Phần phụ lục gồm các từ loại, thành tố cấu tạo từ, động từ bất quy tắc cần thiết cho tiếng Anh chuyên ngành cấp độ I và II thuộc khối CNHH – TP – SH – VL – MT.

II. TRÌNH Đ CẦN ĐẠT ĐƯỢC sau khi thực hiện 24 ĐVHT giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ hóa họcThực phẩmSinh họcVật liệuMôi trường

         Sau khi học xong Chương trình này gồm 2 học phần với thời lượng là 24 ĐVHT, tương đương 570 giờ thực học trên lớp và 30 giờ giảng đường dành cho thi và kiểm tra, người học có khả năng:

         Đọc: Có thể đọc hiểu được các văn bản, tài liệu về CNHH – TP – SH – VL – MT, hiểu được nội dung của bài đọc và trả lời được các câu hỏi về nội dung của bài đọc với số lượng từ vựng từ 1500 từ trở lên. Đọc hiểu bài đọc với lượng từ 500 – 1000 từ ở giai đoạn thực hành cấp độ I và 1000 – 1500 từ ở giai đoạn thực hành cấp độ II, có nội dung theo chuyên môn của người học trong giai đoạn thực hành cấp độ I phải đạt tốc độ 200 đến 250 từ / phút, ở giai đoạn thực hành cấp độ II tốc độ phi lên từ 250 đến 350 từ/ phút.

         Viết: Có thể viết được các bài tóm tắt hoặc báo cáo ngắn, viết thư trao đổi công việc về chuyên ngành Công nghệ theo chuyên ngành CNHH – TP – SH – VL – MT. Mỗi bài viết có lượng từ vựng trong khoảng từ 300 – 550 từ / bài ở giai đoạn thực hành cấp độ I, từ 500 đến 1000 từ / bài ở giai đoạn thực hành cấp độ II trong thời gian 90 phút.

         Nghe: Có thể nghe hiểu được các cuộc tọa đàm, báo cáo khoa học có liên quan đến chuyên ngành đang học với tốc độ trung bình 250 – 300 từ / phút ở giai đoạn thực hành cấp độ I, 300 – 500 từ / phút ở giai đoạn thực hành cấp độ II.

         Nói: Có khả năng sử dụng lời nói bằng tiếng Anh cơ bản và chuyên ngành Công nghệ – Kỹ thuật đã được học để tham gia vào quá trình giao tiếp có liên quan đến các vấn đề về chuyên môn tại các cuộc họp, hội thảo hoặc tọa đàm quốc tế. Người học cần nắm vững được các kĩ năng, kĩ xảo để thực hiện lời nói của mình theo tốc độ tương đương với tốc độ lời nói bằng tiếng mẹ đẻ về sức bật và độ chính xác của lời nói.

         Dịch thuật (Dịch viết và nói từ tiếng Anh sang tiếng mẹ đẻ ở mức độ cơ sở – Background Level): Có thể biên dịch hoặc phiên dịch các tài liệu, văn bản, thư từ trao đổi, hội thoại trực tiếp về chuyên ngành CNHH – TP – SH – VL – MT với lượng từ 1000 từ trở lên đối với giai đoạn thực hành cấp độ I và 1500 từ trở lên đối với giai đoạn thực hành cấp độ II.

III. NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

         Chương trình dưới đây qui định nội dung cho 2 học phần V và VI (tương đương với 600 giờ trên lớp) theo các khối ngành học như sau:

A. Nội dung ngôn ngữ (Language Input) gồm có:

         1. Nhóm chủ điểm (Topics) theo các nhóm ngành công nghệ thuộc khối CNHH – TP – SH – VL – MT dưới đây. Các chủ điểm này có thể và cần thiết phải được nâng cao và mở rộng ở các học phần VII và VIII. Các nhóm ngành chuyên môn thuộc khối Công nghệ nói trên đang được đào tạo tại trường Đại học Bách khoa Hà nội bao gồm:

• Công nghệ hóa lý (Physical Chemistry Technology)

• Công nghệ Hóa hữu cơ – Hóa dầu (Petro – chemical and Organic Chemistry Technology)

• Công nghệ nhiên liệu rắn (Solid Fuel Technology)

• Công nghệ các chất cao phân tử (Macromolecular Technology)

• Công nghệ in (Cellulose Paper Technology)

• Công nghệ các chất vô cơ và phân bón hóa học (Technology of Inorganic Chemistry and Fertilizers)

• Công nghệ điện hóa và bảo vệ kim loại (Technology of Electrochemistry and Metal Protection)

• Công nghệ vật liệu Silicat (Technology of Silicate Materials)

• Máy – Thiết bị công nghiệp hóa chất và dầu khí (Equipment and Machinery for the Petrochemical Industry)

• Công nghệ các sn phẩm lên men (Food Fermenting Technology)

• Công nghệ thực phẩm nhiệt đới (Tropical Food Technology)

• Công nghệ chế biến và bảo quản lương thực, thực phẩm (Food Quality)

• Máy – Thiết bị chế biến lưng thực và thực phẩm (Equipment and Machinery for the Food Industry)

• Công nghệ sinh học (Biotechnology)

• Công nghệ vật liệu (Material Technology)

• Công nghệ Môi trường (Environmental Technology)

         2. Ngữ pháp tiếng Anh chuyên ngành Công nghệ hóa học – Thực phẩm – Sinh học – Vật liệu – Môi trường (Grammar ESP of Chemical Technology – Food Engineering – Biotechnology – Material Technology – Environmental Technology)

         3. Từ vựng (Vocabulary)

B. Phát triển các kỹ năng (Skills Development):

         1. Đọc (Reading)

         2. Nói (Speaking and Interpreting)

         3. Nghe (Listening)

         4. Viết (Writing and Translating)

C. Các chuyên đề hội thảo hoặc tham luận (Seminars).

IV. PHÂN PHỐI VÀ ĐỊNH LƯỢNG CHƯƠNG TRÌNH

V. HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN CHƯƠNG TRÌNH

VI. THỜI GIAN THỰC HỌC TRONG CÁC HỌC PHẦN

VII. CULTURAL CONTENT

VIII. GRAMMAR FOCUS (ESP)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Gautier, D.L., and Claypool, G.E. (1984). Interpretation of methanic diagenesis in ancient marine sediments by analogy with processes in modern diagenetic environments. In McDonald, D.A., and Surdam, R.C. (Eds.), Clastic Diagenesis. AAPG Mem., 37:111-123.

2. Chen, ZhiQiang, Govindaraju, R.S., and Kavvas, M.L. (1994). Spatial averaging of unsaturated flow equations under infiltration conditions over areally heterogeneous fields – 1. Development of models: Water Resources Research, v. 30, no. 2, p. 523-534.

3. Time-Life Books Editors (1988). Working with Plastics.

4. J.M. Coulson and J.F. Richardson (1993). Chemical Engineering, Vol. 6, 2nd Edition, Pergamon.

5. Các tài liệu về giáo dục của Singapore, Thái Lan từ 1995 đến 1998. 

Posted in NN chuyên ngành | 2 Comments »