ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

Archive for the ‘Khi con trưởng thành’ Category

Lời cảm ơn

Posted by daothu09 on April 17, 2014

Ngỡ ngàng và xúc động. Nước mắt từ lâu đã chảy ngược vào trong và như đã cạn khô, giờ bỗng nhạt nhòa khi thấy được nhắc đến ở vị trí trang trọng trong cuốn sách về con: “Người gieo giấc mơ Đàm Quang Minh” của tập thể tác giả FPoly.

Xin chân thành cảm tạ các tác giả vì những bài viết thật xúc động và sâu sắc.

hình1402

Không phải ai cũng biết, phía sau Đàm Quang Minh, ngoài vợ đẹp con khôn, còn có một người mẹ rất tuyệt vời – Tiến sỹ Đào Hồng Thu, cựu giảng viên Đại học Bách khoa Hà Nội. Có nhiều từ để nói về người phụ nữ ấy, nhưng chỉ xin chọn hai chữ: Tận tụy và khảng khái. Phẩm chất đặc biệt ở hai mẹ con MinhĐQ là thường làm hoặc đạt được những cái chưa ai làm, chưa đạt được – họ, đích thị là con người của những cái đầu tiên. Sắp bước sang ngưỡng cửa bên kia cuộc đời, khi nhiều tâm nguyện đã thành, bà mẹ ấy lại hồi nhớ về những ngày tháng cũ …….

Những mẩu chuyện này là bản ghép không đầu, không cuối về những năm tháng ấu thơ buồn tủi, giấc mơ chinh phục tri thức đôi khi thật xa vời của một cậu học trò mồ côi cha ham học, thông minh, nghịch ngợm, hiếu nghĩa, sớm biết tự lập từ khi còn nhỏ. Bên cạnh đó, còn có bóng dáng một người mẹ hiền rất mực thương con, cam chịu, khảng khái, yêu tri thức, bởi chạy theo giấc mơ của mình và con, đã phải nếm trải biết bao tủi nhục, thách thức trước cái nghèo đói, sự đố kỵ, giả dối để rồi một ngày được mỉm cười kiêu hãnh khi con nên người.

Advertisements

Posted in Con học chuyên toán, Hậu ĐHBK Hà Nội, Khi con trưởng thành | Leave a Comment »

Thêm nhiều sách CNTT chất lượng cao cho sinh viên

Posted by daothu09 on November 2, 2011

Sinh viên sẽ có cơ hội tiếp cận những đầu sách công nghệ thông tin chất lượng cao về “Thiết kế web”, “Lập trình”, “Quản trị mạng”, “Thiết kế đồ họa”… có bản quyền từ các nhà xuất bản danh tiếng trên thế giới.

Cao đẳng thực hành FPT và NXB Tri thức vừa ký hợp tác xây dựng tủ sách công nghệ thông tin cho sinh viên tự học và tham khảo. Đây là lần đầu tiên một đơn vị đào tạo CNTT tại Việt Nam biên soạn và hợp tác xuất bản các đầu sách chuyên ngành với một nhà xuất bản uy tín trong nước.

Lễ ký kết mở ra cơ hội tiếp cận những đầu sách CNTT chất lượng cao cho sinh viên.

Giám đốc CĐ thực hành FPT Đàm Quang Minh nhấn mạnh, hợp tác này nhằm mang lại cho sinh viên cơ hội tiếp cận những đầu sách công nghệ thông tin chất lượng cao về “Thiết kế web”, “Lập trình”, “Quản trị mạng”, “Thiết kế đồ họa”… có bản quyền từ các nhà xuất bản danh tiếng trên thế giới như Wiley, McGraw-Hill, No Starch Press và sắp tới là Pearson, Cambridge…

Với tiêu chí các đầu sách được lựa chọn phải đặc tả kỹ về thực hành, được cộng đồng CNTT đánh giá cao, có học liệu đi kèm… cuốn sách đầu tiên sắp được xuất bản sẽ là “Tin học Cơ sở” của NXB McGraw-Hill.

Còn GS Chu Hảo – Giám đốc NXB Tri thức chia sẻ: “Chúng tôi dự kiến số sách xuất bản từ nay đến 2013 là hơn 30 đầu sách, khoảng 2 năm sẽ cập nhật phiên bản mới một lần để tương thích với những thay đổi trong ngành CNTT”.

Trước đó, Tập đoàn FPT và ĐH Quốc gia Hà Nội ký kết hợp tác xây dựng hệ thống “Thư viện Mở Việt Nam”, với mục tiêu trong 3 năm tới cung cấp khoảng 200.000 đầu tài liệu, sách phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Sau khi hoàn tất, trong giai đoạn đầu, hệ thống thư viện này sẽ hoàn toàn miễn phí cho người dùng trong và ngoài ĐH Quốc gia Hà Nội.

Nguyễn Lê

Nguồn: VnExpress

Posted in Khi con trưởng thành | Leave a Comment »

Khi lãnh đạo ngồi “ghế nóng”

Posted by daothu09 on November 1, 2011

Ngày 2/4/2011, tại hội trường 305 nhà C, tòa nhà Việt – Úc, lần đầu tiên Ban lãnh đạo của Cao đẳng thực hành FPT đã ngồi trên “ghế nóng” để lắng nghe tâm tư nguyện vọng và giải đáp thắc mắc của sinh viên  khi kết thúc học kỳ I.

Ngồi lên “ghế nóng” có Giám đốc Cao đẳng thực hành FPT – TS.Đàm Quang Minh và các thầy cô trong ban lãnh đạo của trường.

Muốn thành công không thể sống nhợt nhạt

TS.Đàm Quang Minh mở đầu buổi đối thoại bằng những chia sẻ sau chuyến công tác Nigeria.

 

Theo TS.Đàm Quang Minh, sinh viên FPT Polytecnich đang được sống trong xã hội an toàn và thụ hưởng giá trị giáo dục kiểu mới “Thực học – Thực nghiệp”

TS Minh cho biết: tập đoàn FPT là đơn vị tiên phong tại Việt Nam đầu tư vào lĩnh vực giáo dục ở Châu Phi, cụ thể là Nigeria. Mặc dù Nigeria có GDP cao hơn Việt Nam nhưng đây lại là nước được coi là chậm phát triển về công nghệ. Ở Nigeria, sinh viên phải trả 2 USD để vào mạng tốc độ “rùa” trong 2 tiếng đồng hồ. Tham vọng trong chuyến công tác lần này của đoàn chúng tôi là biến Việt Nam thành một điểm du học đầy hấp dẫn đối với sinh viên thế giới.

Từ câu chuyện về đất nước Châu Phi xa xôi, TS.Đàm Quang Minh cho rằng muốn thành công phải có 3 yếu tố: (1) lúc nào cũng tâm niệm mình kém phải học nhiều thứ, nhiều lĩnh vực; (2) phải đặt cho mình những trở ngại và quyết tâm vượt qua; (3)phải rèn cho mình tính kỷ luật thì mới đi xa, phát triển mạnh mẽ được.

Kết thúc phần chia sẻ của mình, TS. Đàm Quang Minh chúc sinh viên Poly sẽ có cá tính mạnh, bản lĩnh, không sống nhợt nhạt và luôn biết làm chủ cuộc sống vì ai chịu được gian khổ người đó sẽ thành công.

Ghi nhanh tại “phiên chất vấn”

Phần nóng nhất buổi đối thoại là trao đổi của sinh viên với Ban lãnh đạo. Nội  dung ý kiến chủ yếu xoay quanh vấn đề học tập tại trường.

 

Bạn Nguyễn Văn Thưởng – SV lớp PT0603 chia sẻ: “Em trưởng thành hơn từ khi học tại Cao đẳng thực hành FPT

Thưởng tâm sự: “Trước khi đăng ký vào trường, em nghĩ chắc mình chỉ có con đường đi bộ đội thôi. Thời gian đó, em hầu như chỉ biết chơi game đế chế, half life… chưa bao giờ em biết đến soạn thảo văn bản. Thời gian đầu, em rất khó khăn để bắt nhịp với guồng quay học hành, nhưng sau kỳ 1 em thấy mình trưởng thành hơn rất nhiều”.

“Tận dụng” trợ giảng (tutor)

Thầy Quách Ngọc Xuân, Trưởng ban Đào tạo cho biết thêm: “Hiện, trường đã có tutor (trợ giảng) thường trực ở phòng Đào tạo. Tiến tới, môn nào cũng có tutor hỗ trợ sinh viên. Và trong tương lai không xa, trường sẽ xây dựng đội ngũ tutor hỗ trợ trực tuyến” để hỗ trợ nhiều hơn cho sinh viên. Thầy Xuân khuyên các bạn sinh viên nên “tận dụng” đội ngũ tutor này. Thời gian đầu, tutor vẫn đang ít được “hỏi thăm”, tuy nhiên đến một số môn như project đồ họa sinh viên rất cần sự hỗ trợ mới hoàn thành được.

Nên thay password thường xuyên để bảo mật

 

Thái Trung Đức sinh viên PT 0601

Thái Trung Đức – sinh viên PT 0601 – băn khoăn về việc trường yêu cầu 3 tháng thay password một lần nên bạn không nhớ được. Đức góp ý thêm nên thêm RSS cho AP (Academic Portal) – Hệ thống  hỗ trợ quản lý sinh viên của trường để bạn tiện sử dụng.

Anh Nguyễn Việt Dũng – cán bộ phòng IT – giải đáp lý do cần phải thay đổi mật khẩu là để duy trì tính bảo mật. Là một sinh viên học CNTT thì đòi hỏi ý thức về việc bảo mật tài khoản càng cần thiết hơn bao giờ hết. Anh cũng lưu ý lại các bạn sinh viên, bảo vệ tài khoản của mình là trách nhiệm của sinh viên và chủ tài khoản sẽ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm nếu tài khoản đó bị lợi dụng.

Liên thông lên Đại học cùng ngành đào tạo

Trần Văn Đại – sinh viên PB0602 – thắc mắc về quy định liên thông của ngành Kế toán.

Chia sẻ về vấn đề liên thông,  Th.s Vũ Chí Thành – Trưởng ban TS & CTSV cho biết: Bộ LĐ,TB&XH và Bộ GD-ĐT đã ký thông tư liên tịch cho phép đào tạo liên thông từ trình độ TC nghề, CĐ nghề lên trình độ CĐ, ĐH.

Ngoài ra, thầy Quách Ngọc Xuân cho biết thêm, nếu sinh viên học khối ngành công nghệ thông tin mong muốn liên thông lên Đại học Greenwich, Vương quốc Anh thì cần chuẩn bị vốn tiếng Anh ngay từ bây giờ. Điều kiện để liên thông là sinh viên phải đạt mức TOEFL 500 điểm. Cả hai ngành hẹp Ứng dụng phần mềm và Thiết kế web đều có thể liên thông.

Chủ động tạo mối quan hệ với doanh nghiệp

Một sinh viên lớp kế toán bày tỏ mong muốn nhà trường cung cấp giấy giới thiệu để thuận tiện thực tập ở doanh nghiệp.

 

Cô Vũ Thị Thanh Thủy khuyên các sinh viên nên tạo mối quan hệ dần với doanh nghiệp để có nơi thực tập

Cô Vũ Thị Thanh Thủy – Trưởng bộ môn Kế toán  cho biết: “Trường sẽ tạo điều kiện cấp giấy giới thiệu cho sinh viên. Tuy nhiên, về phía các em nên chủ động tạo mối quan hệ với doanh nghiệp, theo một doanh nghiệp trong suốt quá trình thực tập”.

Trả lời thắc mắc trong 24h

 

Cô Nguyễn Ngọc Hằng Minh – Phòng quản ký chất lượng gợi mở nhiều kênh chia sẻ thông tin với nhà trường

Kết thúc buổi đối thoại, Cô Nguyễn Ngọc Hằng Minh – Phòng quản lý chất lượng đào tạo gợi mở nếu có ý kiến hoặc câu hỏi, các bạn gửi trực tiếp về hòm thư ykiencaodang.hn@fpt.edu.vn. Nhà trường cam kết sẽ giải quyết mọi thắc mắc liên quan đến học tập trong vòng 24 giờ (trừ ngày nghỉ, ngày lễ).

Nguồn: Cao đẳng Thực hành FPT

Posted in Khi con trưởng thành | Leave a Comment »

Năng lượng gió của Việt Nam, tiềm năng và triển vọng

Posted by daothu09 on October 30, 2011

Vũ Thành Tự Anh, Đàm Quang Minh

Năng lượng là một trong những nhu cầu thiết yếu của con người và là một yếu tố đầu vào không thể thiếu được của hoạt động kinh tế. Khi mức sống của người dân càng cao, trình độ sản xuất của nền kinh tế ngày càng hiện đại thì nhu cầu về năng lượng cũng ngày càng lớn, và việc thỏa mãn nhu cầu này thực sự là một thách thức đối với hầu hết mọi quốc gia. Ở Việt Nam, sự khởi sắc của nền kinh tế từ sau Đổi Mới làm nhu cầu về điện gia tăng đột biến trong khi năng lực cung ứng chưa phát triển kịp thời. Nếu tiếp tục đà này, nguy cơ thiếu điện vẫn sẽ còn là nỗi lo thường trực của ngành điện lực Việt Nam cũng như của các doanh nghiệp và người dân cả nước.

Bài viết này được bố cục như sau. Trong phần đầu tiên, chúng tôi sẽ phân tích một cách ngắn gọn tình hình cung – cầu điện năng ở Việt Nam. Sau đó, bài viết bàn đến một số lựa chọn của Việt Nam trong việc giải quyết bài toán thiếu hụt điện năng. Về dài hạn, chúng tôi cho rằng bên cạnh việc khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chúng ta phải chuyển dần sang các dạng năng lượng mới, đặc biệt chú trọng tới các nguồn năng lượng có khả năng tái tạo và thân thiện với môi trường. Trong phần cuối cùng của bài viết, chúng tôi xem xét tiềm năng và tính khả thi của một nguồn năng lượng tái tạo sạch – đó là năng lượng gió – như là một gợi ý trong chiến lược đa dạng hóa nguồn năng lượng. Chúng tôi hết sức thận trọng khi đưa ra những nhận định về các lựa chọn chiến lược nhằm đảm bảo cung ứng điện năng phục vụ nhu cầu phát triển cũng như để đảm bảo an ninh năng lượng của đất nước. Chúng tôi hy vọng sẽ có dịp quay lại chủ đề rất quan trọng này trong một bài viết khác, sau khi có điều kiện tiến hành những nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ hơn đối với bài toán an ninh năng lượng từ góc độ kinh tế học năng lượng.

Tình hình cung – cầu điện năng ở Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm – tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Chiến lược công nghiệp hóa và duy trì tốc độ tăng trưởng cao để thực hiện „dân giàu, nước mạnh“ và tránh nguy cơ tụt hậu sẽ còn tiếp tục đặt lên vai ngành điện nhiều trọng trách và thách thức to lớn trong những thập niên tới. Để hoàn thành được những trọng trách này, ngành điện phải có khả năng dự báo nhu cầu về điện năng của nền kinh tế, trên cơ sở đó hoạch định và phát triển năng lực cung ứng của mình.

Việc ước lượng nhu cầu về điện không hề đơn giản, bởi vì nhu cầu về điện là nhu cầu dẫn xuất. Chẳng hạn như nhu cầu về điện sinh hoạt tăng cao trong mùa hè là do các hộ gia đình có nhu cầu điều hòa không khí, đá và nước mát. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất cần điện là do điện có thể được kết hợp với các yếu tố đầu vào khác (như lao động, nguyên vật liệu v.v.) để sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng. Nói cách khác, chúng ta không thể ước lượng nhu cầu về điện một cách trực tiếp mà phải thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc ước lượng nhu cầu của các sản phẩm cuối cùng (2). Nhu cầu này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào nhiều biến số kinh tế và xã hội khác. Bảng dưới đây cung cấp dữ liệu lịch sử của một số biến số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam trong những năm qua.

Bảng 1: Một số biến số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam (1990 – 2003)


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Một cách khác để nhìn vào khía cạnh cầu về điện năng là phân tách tổng cầu về điện theo các ngành kinh tế (Hình 1). Ta thấy số liệu ở Bảng 1 và Hình 1 tương thích với nhau. Nhu cầu về điện năng trong công nghiệp và sinh hoạt/ hành chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nhu cầu. Năm 2005, điện phục vụ tiêu dùng và công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn, lần lượt là 43,81% và 45,91%, trong khi 11% còn lại dành cho nông nghiệp và các nhu cầu khác. Nhu cầu điện của khu vực công nghiệp tăng cao là hệ quả trực tiếp của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế, mà một biểu hiện của nó là tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN trung bình trong hơn 10 năm qua đạt mức khá cao là 10,5%. Còn ở khu vực tiêu dùng, cùng với mức tăng dân số, tốc độ đô thị hóa khá cao, và gia tăng thu nhập của người dân, nhu cầu về điện tiêu dùng cũng tăng với tốc độ rất cao. Kết quả là nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình gần 13%/năm, và tốc độ tăng của mấy năm trở lại đây thậm chí còn cao hơn mức trung bình. Theo dự báo, tốc độ tăng chóng mặt này sẽ còn tiếp tục được duy trì trong nhiều năm tới. Đây thực sự là một thách thức to lớn, buộc ngành điện phải phát triển vượt bậc để có thể đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Bây giờ hãy thử kết hợp những dự báo về nhu cầu điện năng của nền kinh tế với năng lực cung ứng của ngành điện. Nếu tốc độ phát triển nhu cầu về điện tiếp tục duy trì ở mức rất cao 14-15%/năm như mấy năm trở lại đây thì đến năm 2010 cầu về điện sẽ đạt mức 90.000 GWh, gấp đôi mức cầu của năm 2005. Theo dự báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp tục được duy trì ở mức 7,1%/năm thì nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là khoảng 200.000 GWh, vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay cả khi huy động tối đa các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của chúng ta cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh (năm 2030). Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một cách nghiêm trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm. Nếu dự báo này của Tổng Công ty Điện lực trở thành hiện thực thì hoặc là chúng ta phải nhập khẩu điện với giá đắt gấp 2-3 lần so với giá sản xuất trong nước, hoặc là hoạt động sản xuất của nền kinh tế sẽ rơi vào đình trệ, còn đời sống của người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.

Không phải đợi đến năm 2010 hay 2020, ngay trong thời điểm hiện tại chúng ta cũng đã được “nếm mùi” thiếu điện. Năm 2005, lần đầu tiên sau nhiều năm trở lại đây, người dân ở hai trung tâm chính trị và kinh tế của đất nước chịu cảnh cắt điện luôn phiên gây nhiều khó khăn cho sinh hoạt và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế (3).

Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam

Đứng trước thách thức thiếu hụt điện (không nằm ngoài xu thế chung của toàn cầu), chúng ta cần cân nhắc những biện pháp ứng xử thích hợp. Trong ngắn hạn, việc tiết kiệm điện trong các hoạt động sản suất và sinh hoạt đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét phương án tăng giá điện như đề xuất hiện nay của Bộ Công nghiệp. Việc tăng giá điện một mặt có tác dụng điều chỉnh mức cầu về điện năng, mặt khác giúp tăng tích lũy để mở rộng đầu tư cho ngành điện. Tuy nhiên, vì việc tăng giá điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quảng đại nhân dân và của hoạt động sản xuất kinh doanh nên giải pháp tăng giá điện cần được cân nhắc một cách thận trọng. Phương án tăng giá điện phải tính đến tính công bằng giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau, trong đó cần hạn chế đến mức độ tối đa tác động tiêu cực đối với các nhóm dân cư có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, cũng phải lưu ý rằng điện là một yếu tố đầu vào thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, việc tăng giá điện sẽ có thể ảnh hưởng tới mức lạm phát vốn đã xấp xỉ ngưỡng 2 con số. Không những thế, nếu nhìn sang các nước xung quanh thì thấy ngay với mức giá hiện tại, giá điện của Việt Nam đã cao hơn một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái-lan, In-đô-nê-xia, và Ma-lay-xia. Như vậy, việc tăng thêm giá điện 10-15% trong năm nay và những năm kế tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền kinh tế vốn đã bị giảm liên tục trong mấy năm trở lại đây.

Trong trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần có chiến lược đảm bảo an ninh năng lượng bằng cách một mặt mở rộng khai thác những nguồn năng lượng truyền thống; mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn, phát triển các nguồn năng lượng mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo. Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của công nghệ trong tương lai cũng như vào mức giá tương đối của các nguồn năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm này, chúng ta mới chú trọng đến phương án thứ nhất, tức là tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống, chủ yếu là thủy điện. Về kế hoạch phát triển nguồn năng lượng mới, ngày 3/1/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt ”Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình tới năm 2020”. Theo dự báo của Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia thì vào năm 2020, nếu theo đúng tiến độ thì công suất điện hạt nhân sẽ đạt mức 2000 MW, bằng 7% tổng công suất. Cũng theo dự báo này, khi ấy nhiệt điện khí sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất (38%), sau đó là đến thủy điện (29%), nhiệt điện than (17%) và nhập khẩu (9%).

Trong phần cuối của bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích tiềm năng của một dạng năng lượng tái tạo và sạch ở Việt Nam, đó là năng lượng gió. Phần này không có tham vọng trình bày một cách tổng quan hay đầy đủ mọi khía cạnh của việc phát triển năng lượng gió, mà chỉ nhằm góp thêm một lời bàn về khả năng phát triển năng lượng gió nhằm đa dạng hóa nguồn cung cấp năng lượng, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi trường và phát triển năng lượng bền vững cho Việt Nam. Một điều đáng lưu ý là trong hàng loạt giải pháp phát triển nguồn điện để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế (như nhập khẩu điện, phát triển thủy điện, hay điện hạt nhân), dường như Việt Nam còn bỏ quên điện gió, một nguồn điện mà trong mấy năm trở lại đây có tốc độ phát triển cao nhất trên thị trường điện thế giới, hơn nữa giá thành ngày càng rẻ và rất thân thiện với môi trường.

Giá thành của điện gió, liệu có đắt như định kiến?

Cho đến tận những năm 1990, nhiều người vẫn cho rằng giá thành (bao gồm giá lắp đặt và vận hành) của các trạm điện gió khá cao. Nhưng ngày nay, định kiến này đang được nhìn nhận và đánh giá lại, đặc biệt khi quan niệm giá thành không chỉ bao gồm chi phí kinh tế mà còn gồm cả những chi phí ngoài (external cost – như chi phí về xã hội do phải tái định cư, hay về môi trường do ô nhiễm). Trong khi nguồn năng lượng từ nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt đang bị coi là kém ổn định và có xu thế tăng giá, thì cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, giá thành của các trạm điện gió càng ngày càng rẻ hơn.

Thử lấy một ví dụ cụ thể để so sánh giá thành của điện gió và thủy điện. Nhà máy thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế là 2400 MW, được dự kiến xây dựng trong 7 năm với tổng mức đầu tư là 2,4 tỷ USD. Giá thành khi phát điện (chưa tính đến chi phí môi trường) là 70 USD/MWh. Như vậy để có được 1 KW công suất cần đầu tư 1.000 USD trong 7 năm. Trong khi đó theo thời giá năm 2003 đầu tư cho 1 KW điện gió ở nhiều nước Châu Âu cũng vào khoảng 1.000 USD. Đáng lưu ý là giá thành này giảm đều hàng năm do cải tiến công nghệ. Nếu thời gian sử dụng trung bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì chi phí khấu hao cho một KWh điện gió là sẽ 14 USD. Cộng thêm chi phí thường xuyên thì tổng chi phí quản lý và vận hành sẽ nằm trong khoảng 48 – 60 USD/MWh – tương đương với thủy điện, vốn được coi là nguồn năng lượng rẻ và hiệu quả. Theo dự đoán, đến năm 2020 giá thành điện gió sẽ giảm đáng kể, chỉ khoảng 600 USD/KW, khi ấy chi phí quản lý và vận hành sẽ giảm đáng kể, chỉ còn khoảng 30 USD/MWh (4),(5).

Ở Việt Nam cũng đã có một dự án điện gió với công suất 50 MW, đó là nhà máy điện gió Phương Mai ở Bình Định phục vụ cho Khu Kinh tế Nhơn Hội. Tổng đầu tư giai đoạn 1 cho 50MW điện là 65 triệu USD, và giá bán điện dự kiến là 45 USD/MWh (6). Tiếc rằng tiến độ xây dựng nhà máy quá chậm chạp (mặc dù thời gian dự kiến xây lắp chỉ trong khoảng một năm), và vì vậy không thể đánh giá hiệu quả kinh tế của dự án một cách chính xác để so sánh với giá thành của các nguồn năng lượng khác hiện có ở Việt Nam.

Những lợi ích về môi trường và xã hội của điện gió

Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. Để xây dựng một nhà máy thủy điện lớn cần phải nghiên cứu kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra với đập nước. Ngoài ra, việc di dân cũng như việc mất các vùng đất canh tác truyền thống sẽ đặt gánh nặng lên vai những người dân xung quanh khu vực đặt nhà máy, và đây cũng là bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách. Hơn nữa, các khu vực để có thể quy hoạch các đập nước tại Việt Nam cũng không còn nhiều.

Song hành với các nhà máy điện hạt nhân là nguy cơ gây ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy. Các bài học về rò rỉ hạt nhân cộng thêm chi phí đầu tư cho công nghệ, kĩ thuật quá lớn khiến càng ngày càng có nhiều sự ngần ngại khi sử dụng loại năng lượng này.

Các nhà máy điện chạy nhiên liệu hóa thạch thì luôn là những thủ phạm gây ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng xấu đến môi trường và sức khỏe người dân. Hơn thế nguồn nhiên liệu này kém ổn định và giá có xu thế ngày một tăng cao.

Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên cạnh những chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng năng lượng gió càng trở nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử dụng năng lượng gió, người dân không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay tái định cư, và họ cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm.

Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng lượng gió giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám sát lớn hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với kỹ năng cao.

Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai để xây dựng các trạm tourbin mà thuê ngay đất của nông dân. Giá thuê đất (khoảng 20% giá thành vận hành thường xuyên) giúp mang lại một nguồn thu nhập ổn định cho nông dân, trong khi diện tích canh tác bị ảnh hưởng không nhiều.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Cuối cùng, năng lượng gió giúp đa dạng hóa các nguồn năng lượng, là một điều kiện quan trọng để tránh phụ thuộc vào một hay một số ít nguồn năng lượng chủ yếu; và chính điều này giúp phân tán rủi ro và tăng cường an ninh năng lượng.

Tiềm năng điện gió của Việt Nam

Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung bình trong vùng Biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa (7).

Trong chương trình đánh giá về Năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Bảng 2). Như vậy Ngân hàng Thế giới đã làm hộ Việt Nam một việc quan trọng, trong khi Việt Nam còn chưa có nghiên cứu nào đáng kể. Theo tính toán của nghiên cứu này, trong bốn nước được khảo sát thì Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất và hơn hẳn các quốc gia lân cận là Thái Lan, Lào và Campuchia. Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ „tốt“ đến „rất tốt“ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2% (8). Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tất nhiên, để chuyển từ tiềm năng lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềm năng kỹ thuật, và cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài; nhưng điều đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.

Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan là 9% diện tích nông thôn có thể phát triển năng lượng gió. Đây quả thật là một ưu đãi dành cho Việt Nam mà chúng ta còn thờ ơ chưa nghĩ đến cách tận dụng.

Đề xuất một khu vực xây dựng điện gió cho Việt Nam

Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng khác nhau. Nếu ở phía bắc đèo Hải Vân thì mùa gió mạnh chủ yếu trùng với mùa gió đông bắc, trong đó các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng Ninh, Quảng Bình, và Quảng Trị. Ở phần phía nam đèo Hải Vân, mùa gió mạnh trùng với mùa gió tây nam, và các vùng tiềm năng nhất thuộc cao nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc biệt là khu vực ven biển của hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận.

Theo nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm năng nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi cát ở độ cao 60-100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng này không những có vận tốc trung bình lớn, còn có một thuận lợi là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định là những điều kiện rất thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7 m/s tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3 – 3,5 MW. Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy phát điện gió cỡ nhỏ nhằm mục đích thắp sáng. Ở cả hai khu vực này dân cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc đặc biệt khó khăn của Việt Nam.

Mặc dù có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng khi nói đến năng lượng gió, chúng ta cần phải lưu ý một số đặc điểm riêng để có thể phát triển nó một cách có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần nghiên cứu hết sức nghiêm túc chế độ gió, địa hình cũng như loại gió không có các dòng rối vốn ảnh hưởng không tốt đến máy phát. Cũng vì lý do phụ thuộc trên, năng lượng gió tuy ngày càng hữu dụng nhưng không thể là loại năng lượng chủ lực. Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy điện tích năng lại mở ra cơ hội cho chúng ta phát triển năng lượng ở các khu vực như Tây Nguyên vốn có lợi thế ở cả hai loại hình này. Một điểm cần lưu ý nữa là các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn trong khi vận hành cũng như phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến. Do đó, khi xây dựng các khu điện gió cần tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không gây những tác động tiêu cực.

Thay cho lời kết

Nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, trong trung hạn Việt Nam cần tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống. Về dài hạn, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các nguồn năng lượng mới. Trong chiến lược này, chi phí kinh tế (bao gồm cả chi chí trong và chi chí ngoài về môi trường, xã hội) cần phải được phân tích một cách kỹ lưỡng, có tính đến những phát triển mới về mặt công nghệ, cũng như trữ lượng và biến động giá của các nguồn năng lượng thay thế. Trong các nguồn năng lượng mới này, năng lượng gió nổi lên như một lựa chọn xứng đáng, và vì vậy cần được đánh giá một cách đầy đủ.

Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Việc không đầu tư nghiên cứu và phát triển điện gió sẽ là một sự lãng phí rất lớn trong khi nguy cơ thiếu điện luôn thường trực, ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong khi đó, hiện nay chiến lược quốc gia về điện dường như mới chỉ quan tâm tới thủy điện lớn và điện hạt nhân – những nguồn năng lượng có mức đầu tư ban đầu rất lớn và ẩn chứa nhiều rủi ro về cả mặt môi trường và xã hội.

Nếu nhìn ra thế giới thì việc phát triển điện gió đang là một xu thế lớn, thể hiện ở mức tăng trưởng cao nhất so với các nguồn năng lượng khác. Khác với điện hạt nhân vốn cần một quy trình kỹ thuật và giám sát hết sức nghiêm ngặt, việc xây lắp điện gió không đòi hỏi quy trình khắt khe đó. Với kinh nghiệm phát triển điện gió thành công của Ấn Độ, Trung Quốc, và Phi-lip-pin, và với những lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam, chúng ta hoàn toàn có thể phát triển năng lượng điện gió để đóng góp vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Liệu Việt Nam có thể „đi tắt, đón đầu“ trong phát triển nguồn năng lượng hay không phụ thuộc rất nhiều vào các quyết sách ngày hôm nay. 

(1) TS. Vũ Thành Tự Anh – Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright, Đàm Quang Minh – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.

(2) Về mặt kỹ thuật, để ước lượng chính xác nhu cầu về điện, chúng ta còn phải xem xét khả năng thay thế giữa điện năng và các yếu tố đầu vào khác trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng; và điều này phụ thuộc vào công nghệ tương lai mà trên thực tế rất khó có thể dự báo một cách chính xác.

(3) Thiếu điện: Hà Nội ngột ngạt“, VietnamNet – http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/2005/05/437949/

(4) Wind Power Economic – Wind Energy costs – investment factors. EWEA 2005 – http://www.eawa.org (các giá thành được quy đổi theo tỷ giá 1 Euro = 1,2 USD)

(5) Danish Wind Industry Association, http://www.windpower.org/en/tour/econ/index.htm
(6) Điện năng từ gió, tiềm năng chưa được đánh thức, http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoa-hoc/2005/05/3B9DE056/

(7) Biển Đông, tập 2, Khí tượng Thủy văn Động lực Biển – Phạm Văn Ninh chủ biên., 2003. NXB Đại học Quốc gia

(8) Wind energy resource atlas of Southeast Asia., 2001., TrueWind Solutions. Có thể download toàn bộ cuốn Atlas này tại địa chỉ: http://www.worldbank.org/astae/werasa/complete.pdf

(9) Bùi Hồng Long, Tống Phước Hoàng Sơn. Một số kết quả tính toán các đặc trưng thống kê khí tượng – thủy động lực khu vực biển bắc Bình Thuận. 2002., Tuyển tập Nghiên cứu Biển tập XII.

Posted in Khi con trưởng thành | Leave a Comment »

Phát triển năng lượng gió – kinh nghiệm của một số nước

Posted by daothu09 on October 26, 2011

Vũ Thành Tự Anh, Đàm Quang Minh

Năng lượng gió: Mới và đầy sức sống

Mặc dù điện gió bắt đầu được thế giới để ý đến từ 25 năm trước, nhưng chỉ trong gần 10 năm trở lại đây nó mới khẳng định được vị trí trên thị trường năng lượng thế giới khi sản lượng điện gió tăng trưởng một cách ngoạn mục với tốc độ 28%/năm, cao nhất trong tất cả các nguồn năng lượng hiện có (Hình 1). Sự phát triển thần kỳ này của điện gió có được là nhờ vào một số thay đổi quan trọng trong thời gian qua.

Đầu tiên phải kể đến những tiến bộ về công nghệ có tính đột phá trong thời gian qua đã giúp giảm giá thành điện gió xuống nhiều lần, đồng thời tăng công suất, hiệu quả, và độ tin cậy của các trạm điện gió. Cụ thể là nếu như vào năm 1990, công suất trung bình của một trạm điện gió ở Đan Mạch và Đức chỉ vào khoảng 200 KW, thì đến năm 2002 đã lên tới 1,5 MW và hiện nay các nước này đang phát triển các tuốc bin lớn cỡ 5-10 MW nhằm phát triển các trạm điện gió trên thềm lục địa. Hiệu quả của các trạm điện gió này cũng được cải thiện từ 2 đến 3% mỗi năm, góp phần vào việc giảm 30% giá thành điện gió trong vòng 12 năm(2).

 

 

 

 

 

 

 

 

Một lý do quan trọng nữa giải thích sự phát triển đột biến của điện gió trong 10 năm trở lại đây là nguy cơ khủng hoảng năng lượng của các nước đã phát triển cũng như mối quan tâm ngày càng cao của các nước này về bảo vệ môi trường đã tiếp thêm sức mạnh cho những nỗ lực tìm kiếm các dạng năng lượng tái tạo thân thiện với môi trường, trong đó điện gió hiển nhiên là một ứng cử viên sáng giá.

Trong các nước chủ trương phát triển năng lượng gió, Đức vẫn là nước dẫn đầu với công suất vào cuối năm 2004 lên tới 16.649 MW, chiếm hơn 30% tổng công suất điện gió của thế giới. Ngay sau Đức là Tây Ban Nha và Mỹ lần lượt chiếm 19% và 16% tổng công suất điện gió thế giới. Một điều đáng lưu ý là không chỉ các nước đã phát triển mà cả một số nước đang phát triển (đặc biệt là những nước đông dân như Ấn Độ và Trung Quốc) cũng quyết định đầu tư để phát triển điện gió. Trong phần dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu kinh nghiệm phát triển điện gió của ba nước Ấn Độ, Trung Quốc, và Philippines là ba nước có trình độ phát triển không quá cách biệt đối với Việt Nam.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Các bài học của Ấn Độ, Trung Quốc và Philippines

Ấn Độ

Ấn Độ là một trong hai nước đang phát triển nằm trong Top 10 nước dẫn đầu về công suất điện gió (nước kia là Trung Quốc). Năm 2004, công suất điện gió tăng thêm của Ấn Độ đứng thứ ba trên thế giới, chỉ sau CHLB Đức, Tây Ban Nha, đứng trên cả Anh và Mỹ. Các nỗ lực này đã đưa Ấn Độ vươn lên hàng thứ năm trên thế giới về công suất (Hình vẽ)
Tính đến tháng 3/2005, công suất điện gió của Ấn Độ đạt mức 3.595 MW, và chỉ riêng trong năm 2004 Ấn Độ đã lắp đặt mới được 1.112 MW, đạt mức tăng trưởng 45%. Nếu lấy năm 2000 làm mốc, khi Ấn Độ mới chỉ có 1.220 MW điện gió, thì chỉ sau 5 năm, công suất điện gió của Ấn Độ đã tăng lên 3 lần.

Năm 1980 đánh dấu bước khởi đầu của chiến lược phát triển năng lượng gió của Ấn Độ khi Cơ quan Nguồn năng lượng (sau chuyển thành Bộ Năng lượng) của nước này được thành lập nhằm mục đích đa dạng hóa nguồn năng lượng để phục vụ cho sự phát triển nhanh của nền kinh tế (tốc độ tăng trưởng bình quân của Ấn Độ trong 10 năm qua là khoảng 6-7 %/năm). Cơ quan này đã tiến hành nghiên cứu, xác định, và triển khai các dự án năng lượng gió và sau đó đưa vào kinh doanh. Chính phủ Ấn Độ cũng đã ban hành một số chính sách ưu đãi để hỗ trợ cho dự án. Các công ty công nghiệp và thương mại, đặc biệt là các công ty tư nhân, đã tận dụng những ưu đãi này của nhà nước để tiến hành đầu tư một cách mạnh mẽ. Kết quả là các công ty này (trong đó 97% là các công ty tư nhân) đã tự sản xuất được các bộ phát điện, và hơn thế, một số nhà sản xuất đã có thể bắt đầu xuất khẩu sản phẩm của mình.

Bài học của Ấn Độ cho thấy một khi có chính sách khuyến khích đúng đắn, kết hợp với những nghiên cứu kỹ thuật công phu và định hướng chính sách phát triển rõ ràng của nhà nước thì các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân năng động, sẽ mạnh dạn đầu tư và phát triển thị trường điện gió một cách tương đối hiệu quả mà không cần sự can thiệp và đầu tư lớn của nhà nước. Nếu như các nguồn năng lượng thủy điện và hạt nhân đòi hỏi mức độ đầu tư ban đầu rất lớn và tiềm tàng mức độ ảnh hưởng ngoại tác (externality) cao, và vì vậy thường đòi hỏi sự can thiệp của nhà nước, thì các trạm điện gió có quy mô vừa phải hoàn toàn nằm trong tầm với của các nhà đầu tư tư nhân. Tất nhiên, nhà nước cần tạo cơ sở và hành lang pháp lý cũng như có những biện pháp kiểm tra, giám sát cần thiết để đảm bảo những đầu tư của khu vực tư nhân không đi ngược lại lợi ích của xã hội.

Trung Quốc

Với một bờ biển dài, Trung Quốc là một quốc gia có nhiều tiềm năng về năng lượng gió. Dự án điện gió thử nghiệm đầu tiên của Trung Quốc được bắt đầu từ năm 1986. Trong 20 năm qua, tận dụng các khoản viện trợ nước ngoài và các khoản vay lãi suất thấp, Trung Quốc đã phát triển thêm nhiều khu điện gió, hòa mạng vào lưới điện quốc gia. Năm 1994, Bộ trưởng Bộ Năng lượng Điện của Trung Quốc đã ra quyết định đẩy mạnh phát triển năng lượng gió, một quyết định hết sức khó khăn. Lý do là vì vào thời điểm đó, năng lượng gió trên thế giới vẫn chưa phát triển, đồng thời nhiệt điện than khá rẻ và vẫn còn tương đối dồi dào. Hiểu được điểm yếu này

 
Xây dựng các trạm điện gió tại khu tự trị Nội Mông (nguồn: http://www.chinapage.org)

của điện gió so với các nguồn năng lượng truyền thống khác, Bộ Năng lượng của Trung Quốc đã định hướng phát triển điện gió thông qua việc giảm giá thành bằng cách phát triển những dự án quy mô lớn, đồng thời địa phương hóa các nhà máy sản xuất tuốc-bin gió. Chính quá trình địa phương hóa các nhà máy sản xuất tuốc-bin đã góp phần quyết định vào việc giảm giá thành, đồng thời giúp phát triển kinh tế địa phương, đặc biệt là ở những vùng sâu, vùng xa nhờ đảm bảo cung ứng điện ổn định, tăng nguồn thu thuế, và tạo thêm công ăn việc làm cho địa phương.

Với tiền đề chính sách đúng đắn đó, thị trường điện gió ở Trung Quốc được hình thành, và đến cuối năm 2004 Trung Quốc đã có 43 khu điện gió với tổng công suất là 850 MW. Trong năm 2005, có thêm 450 MW được đưa vào vận hành. Hướng tới tương lai xa hơn, chính phủ Trung Quốc đặt mục tiêu đến năm 2020, công suất điện gió của nước này sẽ tăng lên tới 20.000 MW gấp 20 lần công suất hiện tại.

Philippines

 
Trạm điện gió tại Philippines

Trong thập kỷ tới, Philippines có triển vọng trở thành quốc gia dẫn đầu về năng lượng gió trong khu vực Đông Nam Á. Một sự hợp tác chặt chẽ giữa chính phủ và thành phần kinh tế tư nhân được xác lập với mục tiêu đạt công suất tối thiểu là 417 MW điện gió trong vòng 10 năm tới. Dựa vào những nghiên cứu của phòng thí nghiệm quốc gia về năng lượng tái tạo, Philippines quy hoạch một khu vực được đánh giá là rất tốt để phát triển năng lượng gió với diện tích lên tới 10.000 km2 cho dự án phát triển điện gió. Theo tính toán, tiềm năng về công suất gió của khu vực này lên tới hơn 70.000 MW, có thể cung cấp khoảng 195 tỷ kWh mỗi năm. Các nghiên cứu triển khai cho dự án này hiện vẫn đang được tiếp tục và bước đầu đưa vào thực tế. 

Một viễn cảnh tươi sáng của điện gió

Tổ chức Năng lượng gió Châu Âu đang tiến hành một chiến lược phát triển rầm rộ nhất cho năng lượng gió với mục tiêu đưa năng lượng gió vào nhóm những nguồn năng lượng quan trọng nhất. Theo kế hoạch của tổ chức này, mục tiêu đến năm 2020, sản lượng điện gió sẽ đạt 94,8 GW, chiếm 12,1% tổng sản lượng điện năng của thế giới. Theo kế hoạch này đến năm 2020, tổng công suất của Châu Âu sẽ là 180 GW trong đó có 70 GW được xây dựng ngoài thềm lục địa gấp 72 lần công suất năm 1995, đủ cung cấp cho 195 triệu dân. Các kế hoạch phát triển các trạm điện gió ngoài thềm lục địa cũng đang được tiến hành để lợi dụng gió biển và ước tính sẽ chiếm trên 40% sản lượng điện gió tương lai của Châu Âu(3). Cũng theo dự đoán này thì năng lượng gió sẽ tăng dần và vượt qua nhiều nguồn năng lượng truyền thống nhưng tiềm ẩn rủi ro cao như điện hạt nhân và thủy điện lớn, và vào năm 2030 năng lượng gió sẽ trở thành nguồn năng lượng chiếm tỷ trọng lớn thứ hai, chỉ đứng sau nhiệt điện(4).

Hội đồng Năng lượng Gió Thế giới cũng đưa ra những dự báo hết sức khả quan cho triển vọng phát triển năng lượng điện gió. Theo Hội đồng này, đến năm 2020 sản lượng điện gió sẽ chiếm tới 12% trong tổng sản lượng điện năng của thế giới. Để đạt được mục tiêu này, thế giới sẽ đầu tư khoảng 100 tỷ USD mỗi năm vào điện gió, đồng thời tạo ra 2,3 triệu việc làm và giảm được một lượng đáng kể khí CO2 gây hiệu ứng nhà kính. Một thị trường về năng lượng gió sẽ phát triển mạnh mẽ đưa giá thành lắp đặt cũng như vận hành điện gió xuống mức rẻ nhất, với chi phí lắp đặt khoảng 600 USD trên một đơn vị kW công suất và giá điện thương phẩm sẽ dưới 3 USD/kWh.

Các nghiên cứu về năng lượng gió cũng như những thảo luận hiện nay đã tạo nên một không khí sôi nổi tại các hội nghị khoa học và trong dư luận xã hội. Năng lượng gió ngày càng được quan tâm hơn, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững về mặt năng lượng, đồng thời bảo đảm an ninh và sự tự chủ về năng lượng cho các quốc gia. Hơn nữa, điện gió còn tạo nên được một thị trường mới với các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và giúp tạo thêm nhiều việc làm mới cho xã hội. Các dự báo về tốc độ phát triển của năng lượng gió thường xuyên phải điều chính để phản ánh chính xác hơn tốc độ tăng trưởng vượt bậc của ngành công nghiệp điện gió. Chúng ta chắc chắn sẽ thấy được đóng góp tích cực của ngành công nghiệp điện gió một cách toàn diện vào đời sống kinh tế – chính trị thế giới trong một tương lai không xa.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

(1) TS. Vũ Thành Tự Anh – Quỹ phát triển giáo dục Fullbright, Đàm Quang Minh – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội.

(2) http://www.ewea.org/fileadmin/ewea_documents/ documents/publications/WETF/Facts_Volume_2.pdf

(3) Wind power targets for Europe: 75,000 MW by 2010. European Wind Energy Association – 10.2003

(4) Wind Energy – The Facts, Vol.5 Market development. http://www.ewea.org

Posted in Khi con trưởng thành | Leave a Comment »

Canh bạc cuộc đời

Posted by daothu09 on July 23, 2011

Nguồn ảnh : VLOS

 TP (2006) – Không phải vô cớ Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương” đã nói rằng máu cờ bạc là một trong những đặc tính tiêu biểu của dân tộc.

Trong đời người mỗi dân Việt ai chẳng một vài lần đánh bạc, có những người đánh bạc thành nghiệp và một sự thật phũ phàng hơn là với nhiều người cuộc đời là một canh bạc lớn mà đôi khi chính họ không hình dung được rủi ro có thể gặp.

Xin không bàn đến những việc bài bạc thường tình những ngày lễ tết hay những lúc nhàn rỗi hay lôi nhau ra sát phạt. Cũng xin không bàn đến các quan chức xã đánh bạc ở nhiệm sở bị đưa lên mặt báo. Và cũng xin không bàn đến các ông tổng nọ tổng kia tham gia đánh bạc hàng triệu đô. Mà những dòng tâm sự này chỉ mong nói đến một canh bạc cuộc đời với bản tính của người Việt.

Cái máu cờ bạc đã ăn sâu vào mỗi người dân Việt đến mức đôi khi họ không còn nhận ra điều đó. Nó ngấm vào từng suy nghĩ cầu mong những hạnh phúc bất ngờ mà không cần phải vất vả bon chen. Phải chăng nó bắt nguồn từ cuộc sống quá khó khăn không thấy lối thoát, có lẽ không phải! Hay đấy là vì mục đích giải trí đơn thuần, cũng không hẳn là như thế. Chỉ biết rằng, những lĩnh vực như là thị trường chứng khoán, bất động sản được mọi người hào hứng xông vào với từ “chơi”. Họ đổ xô nhau vào “chơi”, từ người giàu đến không giàu lắm và chơi bằng vốn của mình cũng như vay mượn. Hình ảnh chăm chú theo dõi biến động và những lời bàn kháo nhau giống hệt như dòng người ào ạt vào các sòng bạc để rất ít người bước ra một cách đắc ý. Tất cả tưởng chừng như giật được nhanh chóng tiền của thiên hạ. Rồi các làn sóng bán hàng đa cấp cũng nhanh chóng thu hút được những người dân Việt máu me làm giàu nhanh chóng. Tất cả như một canh bạc, với số tiền đầu tư ít ỏi, ai cũng sẵn sàng bước vào với giấc mơ hồng để rồi đa số phải thất vọng và trả giá.

Tưởng rằng những người ít học mới ham mê những canh bạc, nhưng không những người tham gia vào canh bạc này thực sự lại là những người được gọi là có tri thức. Các ông bố, bà mẹ sẵn sàng bỏ tiền gấp hàng chục đến hàng trăm lần số tiền lương sẽ được nhận cho con cái mình có việc làm. Những người “thức thời” sẵn sàng bỏ ra số tiền khổng lồ chạy chọt vào những vị trí với mức lương bèo bọt. Tại sao vậy? Họ đang muốn tham gia vào một trò chơi, một canh bạc của cuộc đời. Họ dấn thân vào những chỗ chưa hẳn đã thích hợp với mình, đầu tư khoản tiền khổng lồ với hy vọng đến lượt mình sẽ lại thu tiền của người khác. Người ta thường kháo nhau rằng, cảnh sát giao thông muốn được đứng đường không phải là đơn giản. Một số tiền lớn đã được lo lót và đến lượt họ bất chấp liêm sỉ, danh dự bòn mót từng đồng vất vả của cánh lái xe. Giáo viên vốn là một nghề cao quý nhưng cũng không tránh được thảm cảnh của canh bạc. Để có được một chân giảng viên ở một trường danh tiếng có nghĩa đi đôi với độ dày của tập giấy người ta gọi trắng trợn ra là tiền chứ không phải bằng cấp hay danh tiếng. Người ta có thể dễ dàng nhận ra các lãnh đạo một trường cấp 3 vi vu đi làm bằng xe con như những thương gia hạng nhất. Những cái oai, cái vẻ hào nhoáng bên ngoài này đã được xây đắp từ bòn rút của nhiều thế hệ giáo viên, học sinh. Đến lượt mình, các giáo viên với đồng lương thực tế ít ỏi lại phải gồng mình vừa kiếm sống, vừa trả lại món nợ đã phải đầu tư ban đầu. Họ đã tham gia vào một canh bạc một cách vô thức mà không biết. Những bộ mặt lạnh lùng, giọng gắt gỏng cáu kỉnh và đôi khi là chửi bới có thể dễ thấy ở nơi người ta đáng được an tĩnh như bệnh viện. Tại đó, có những viên chức tự cho mình cái quyền được cao giọng với người khác chỉ vì người đó đang nhờ lụy mình. Thực tế rằng những người đáng an dưỡng và bị gắt gỏng kia lại đang trả tiền và nuôi sống những người gắt gỏng họ bằng những cách trực tiếp thô thiển sau tờ phong bì hay gián tiếp qua bệnh viện. Và một thực tế phũ phàng rằng, để có được một chân trong một bệnh viện “ngon” thì số tiền chi ra cũng phải rất “ngon”. Như vậy họ là những người trước hết là đáng trách nhưng cũng là những nạn nhân của canh bạc cuộc đời mà họ tham dự. Vì mong muốn có cuộc sống đầy đủ hơn về mặt vật chất, họ cùng nhau bán rẻ lương tâm và ngang nhiên như là một sự hiện nhiên của xã hội hiện tại. Trong các cuộc đấu thầu, người ta thán phục những ai dám “chơi”, càng dám “chơi” càng chứng tỏ một bản lĩnh của những tâm hồn Việt đang đánh bạc với cuộc đời. “chơi” ở đây đồng nghĩa với “chi”, người “dám chơi” là người dám chi, dám „lại quả“ mạnh tay hơn mà vẫn hợp thức hóa được tất cả chứng từ và bịt mắt được công luận. Người ta cũng thán phục nhau giỏi tài biến báo và hợp lý hóa các thủ tục lắt léo. Mỗi khi lương tâm vấn hỏi thì một cách nhẹ nhàng “cái cơ chế nó thế”, vâng, trăm sự tại cái “cơ chế”, một cách đổ tội tài tình hợp lý cũng như cách đây chưa lâu người ta đổ tội cho “lịch sử”. Không gì dễ bằng đổ tội cho cái mà chẳng thể nào thanh minh, “lịch sử”, “cơ chế” chẳng bao giờ biết cãi lại mà chỉ im lặng nhận bao nhiêu thứ tội lỗi người ta đang trút lên đầu mình.

Một niềm đau nhức nhối mà mỗi người hàng ngày đối mặt không cách giải quyết, mỗi người đều phải gặm nhấm nó để rồi lúc nào đó lại chà xát lên nỗi đau của người khác để thấy mình có vị trí một chút, có oai một chút, một chút hả lòng để quên đi những khó khăn hiện tại. Tại sao chúng ta lại cứ phải đay nghiến, hành hạ nhau trong cuộc sống đã đầy rẫy khó khăn? Tại sao những người Việt lại ham mê trong canh bạc cuộc đời của chính mình. Hình ảnh các tiếp viên nam nữ hàng không Việt Nam lễ mễ bê đủ các loại mỹ phẩm tại sân bay Frankfurt để kiếm thêm thu nhập, giáo viên thu từng đồng khó nhọc của sinh viên, các y tá thu từng chục ngàn của bệnh nhân mong được nhẹ nhàng khi đối xử, hay cảnh sát giao thông phục kích từng đồng của cánh lái xe như những nỗi đau cấu xé lòng của những người chưa vô cảm.

Nhưng có một sự thật là khi phải sống trong những nỗi đau thì con người ta cũng trở nên chai sạn, tàn nhẫn hơn. Họ cũng sẵn sàng gây những nỗi đau cho người khác mà không cần áy náy và suy nghĩ. Đời là thế!

TS. Đàm Quang Minh

Posted in Khi con trưởng thành, Ngôn ngữ và Văn hóa, Truyện ngắn và Thơ | Leave a Comment »

Sai lầm của TQ trong tranh chấp Biển Đông

Posted by daothu09 on July 23, 2011

Đàm Quang Minh, Lê Vĩnh Trương

Quỹ nghiên cứu Biển Đông

Tàu hải giám của Trung Quốc bị cáo buộc xâm phạm hải phận Việt Nam trong vụ “cắt cáp” tàu Bình Minh 02.

 

Những hoạt động quân sự thường xuyên của Trung Quốc đặc biệt tại các khu vực Biển Đông Việt Nam hay Biển Nam Trung Hoa đã gây nên những lo lắng cho các quốc gia Đông Nam Á.

Nếu trước đây các quốc gia có tranh chấp đối thoại trực tiếp với Trung Quốc thì nay đã hợp tác với nhau để đối phó với các chiến lược của Bắc Kinh bất chấp tầm ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa đông đảo có vai trò kinh tế lớn trong khu vực.

Dẫu rằng đã có một sự toan tính giữa nguyên tắc và lợi ích, các quốc gia ASEAN vừa đón tiếp Trung Quốc vừa e dè quốc gia láng giềng mà hồi tháng 3/2011 thì quấy phá Cỏ Rong gần Philippines, còn tháng 5/2011 thì liên tiếp cắt cáp Bình Minh 02 và Viking II của Việt Nam.

Sau sự kiện đó, Philippines lần đầu tiên đã tỏ thái độ rất cứng rắn với Trung Quốc khi không chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc và gửi kiến nghị lên Liên hợp quốc(5/4/2011).

Trước đó, Indonesia cũng lần đầu tiên gửi công hàm đến Liên Hiệp Quốc phản đối “đường chữ U” (8/7/2010) dù rằng Indonesia không hề có liên quan đến tranh chấp các đảo ở Hoàng Sa hay Trường Sa.

Theo Reuter, năm 2011 Trung Quốc tăng ngân sách quân sự 12,7% lên mức 91,5 tỷ USD, gấp bảy lần so với năm 1999 gần bằng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của cả Việt Nam.

Đồng thời với tăng chi phí quân sự, các đơn vị dân sự liên quan đến biển cũng được tăng cường và có tầm hoạt động ngày càng xa bờ. Điển hình lớn nhất có thể kể đến tàu sân bay Shi Lang và giàn khoan dầu CNOOC 981 với trị giá gần 1 tỷ USD.

Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đã sẵn sàng chi nhiều tỷ USD cho chiến lược biển và sẵn sàng duy trì lực lượng quân sự lớn phục vụ chiến lược này.

Mục tiêu vì dầu khí?

Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân, không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực phía xa hơn nằm phía Nam Biển Đông

Trong tất cả mục tiêu khi đề ra chiến lược tại Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Biển Nam Hải), các lãnh đạo Trung Quốc đều nhận định khu vực này như là một Vịnh Ả Rập thứ hai với trữ lượng dầu mỏ hàng chục tỉ tấn. Và vì vậy Trung Quốc không thể đứng ngoài cuộc.

Căn cứ lớn nhất cho Trung Quốc tham gia vào cuộc chơi dầu mỏ duy nhất dựa vào khái niệm “vùng nước lịch sử” vì ngoài khái niệm mơ hồ này thì Trung Quốc cũng chỉ có thể tranh chấp tại các vùng nước sâu không có tiềm năng dầu khí gì.

Do đó, Trung Quốc quyết tâm đưa căn cứ đường chữ U dựa trên khái niệm mơ hồ “vùng nước lịch sử” mà không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế khác mạnh hơn như luật biển 1982.

Nhưng những tính toán mang tính chiến lược đó liệu có thực sự có hiệu quả trên thực tế?

Đầu tiên có thể thấy khu vực có dầu khí chủ yếu nằm ở phía nam và rìa của đường chữ U. Các khu vực này rất gần đất liền của các quốc gia Đông Nam Á nên có thể thấy việc duy trì lực lượng bảo vệ ở đây với các quốc gia này là khá dễ dàng.

Ví dụ điển hình khi các tàu Trung Quốc có hoạt động tại khu vực gần bờ biển Philippines thì ngay lập tức lực lượng không quân nước này sẵn sàng bảo vệ để tàu nghiên cứu của mình tiếp tục hoạt động.

 

Bản đồ ‘lưỡi bò’ của Trung Quốc bị các quốc gia tại Biển Đông cáo buộc là vô căn cứ và xâm phạm chủ quyền.

Trong khi đó, Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân, không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực phía xa hơn nằm phía Nam Biển Đông.

Thứ hai, theo tính chất địa chất khu vực này, vùng phía bắc của Biển Đông do sụt lún trong Kỷ Đệ Tứ quá nhanh nên không thể hình thành được dầu khí.

Khu vực phía nam lý tưởng hơn với các nguồn dầu khí chủ yếu nằm trong các khối đá gốc granit với tầng chắn là trầm tích Oligocene và Miocene.

Các dạng dầu khí này cũng thuộc dạng rất khó khai thác và nhiều công ty dầu khí đã phải rút lui, nhất là với các lô dầu khí nằm ở phía bắc hơn của khu vực này.

Không chỉ có vậy mà theo các nghiên cứu của các quốc gia này thì trữ lượng dầu khí tại khu vực đang có dấu hiệu sụt giảm sản lượng.

Các công ty dầu khí lớn của các quốc gia này bắt đầu phải tìm kiếm nguồn dầu khí mới tại các quốc gia xa xôi như Châu Phi hay Châu Mỹ để đáp ứng nhu cầu tăng cao của nền kinh tế.

Do đó, có thể nói chiến lược độc chiếm biển Nam Hải của Trung Quốc vì dầu khí là hoàn toàn vô căn cứ và không hề có triển vọng thật sự.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm niềm tin rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá

Không những Trung Quốc không có được nguồn lợi này mà còn càng trở nên khó khăn khi tiếp cận các nguồn tài nguyên của các quốc gia trong khu vực như trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc bị từ chối khi đầu tư khai thác tại đây.

“Hòa bình phá sản”

Chính sách ngoại giao Trung Quốc luôn được nhắc đến với cụm từ Phát triển hòa bình với chia sẻ Trung Quốc từng là nạn nhân của đế quốc.

Nhưng dường như các quốc gia lân cận đặc biệt như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á đang càng ngày càng cảm thấy quan ngại trước sự đầu tư lớn của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự.

Cùng với nhiều tuyên bố và hành động, người ta đang thấy hình ảnh của một đế quốc đang hình thành bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và đang chuyển sang quân sự.

Các quốc gia có FDI của Trung Quốc như các quốc gia Đông Nam Á và Châu Phi bắt đầu dè dặt hơn với các khoản đầu tư bắt nguồn từ Trung Quốc với lo ngại tham vọng chính trị của các khoản tiền này.

 

Trung Quốc thường tuyên bố bắt giữ các tàu cá nước ngoài trên Biển Đông trong thời gian gần đây.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm niềm tin rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá bất chấp các lời lẽ mềm dẻo từ phía ngoại giao của chính quyền Bắc Kinh.

Cùng với việc bắt tay chặt chẽ với Pakistan, một lần nữa Trung Quốc lại đẩy Ấn Độ vào thế phải phòng ngừa và không loại trừ khả năng Ấn Độ sẽ đẩy mạnh việc ủng hộ các lực lượng ly khai tại Tây Tạng và nhích lại gần hơn với Hoa Kỳ.

Không những vậy các quốc gia khác đang thấy vai trò của Trung Quốc trong việc duy trì sự tồn tại của các thể chế chính trị gây phức tạp cho hòa bình thế giới như ủng hộ với Bắc Triều Tiên, Miến Điện hay Sudan.

Như vậy với quyết định tăng cường sức mạnh quân sự, đe dọa các quốc gia lân cận và ủng hộ các quốc gia hiếu chiến, chắc chắn hình ảnh phát triển hòa bình của Trung Quốc sẽ được thay bằng một hình ảnh một đế quốc mới muốn thể hiện sức mạnh của mình.

Điều này chưa chắc đã có lợi cho sự phát triển trung và dài hạn của Trung Quốc.

“Tự cô lập mình”

Sự thay đổi này có thể sẽ khiến các quốc gia lân cận quan ngại và đặc biệt Đông Nam Á sẽ nhanh chóng tập hợp thành một khu vực chung nhằm đối phó lại các yêu sách này

Với yêu sách ngày càng tăng cao trong khu vực, Trung Quốc đang khiến các quốc gia Đông Nam Á càng ngày càng nỗ lực trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Việt Nam và Malaysia đã đưa kiến nghị chung về đường cơ sở vào năm 2009 và Philippines cùng đồng ý phản đối đường chữ U của Trung Quốc lên Liên hợp quốc trong năm 2011.

Theo xu thế này, các quốc gia Đông Nam Á với tinh thần xây dựng một cộng đồng chung sẽ có thể nhanh chóng đề xuất và đạt được thỏa thuận vùng biển chung cho khu vực Đông Nam Á.

Nếu đề xuất này thành hiện thực, Trung Quốc thực sự sẽ bị cô lập trong vấn đề Biển Đông và thường xuyên phải đối phó với lực lượng tuần tra chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo kịch bản này, nếu các tàu của Trung Quốc gặp khó khăn khi hoạt động tại khu vực có giao thương bậc nhất này, thì không những Trung Quốc không có được nguồn dầu khí tại đây mà ngay cả đường nhập khẩu dầu mỏ chủ yếu vốn phải đi qua khu vực này cũng có khả năng bị gián đoạn, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của chính quốc gia này.

 

Hải Quân Việt Nam cho hay sẽ tập bắn đạn thật tại khu vực biển gần tỉnh Quảng Nam vào tuần tới.

Sai lầm gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của khu vực và của chính bản thân Trung Quốc. Rất đáng tiếc là chiến lược này vẫn đang tiếp tục được thi hành với mức độ ngày càng gắt gao.

Nhưng các nước trong vòng tranh chấp không dễ chấp nhận khuất phục Trung Quốc. Mối liên kết chặt chẽ giữa Mỹ và Phillipines, mối quan tâm (cho đến nay) rất đúng mức của Indonesia, nước Hồi Giáo lớn nhất thế giới, vào vấn đề Biển Đông là những bước phản hồi mạnh mẽ vào chiến lược biển của Trung Quốc.

Như vậy có thể nói, mong muốn lớn nhất về dầu khí của Trung Quốc chắc chắn sẽ khó đạt được. Ngoài ra khoản tiền đầu tư khổng lồ cho chiến lược biển cùng với chi phí duy trì lực lượng hải quân nhằm kiểm soát các khu vực quá xa căn cứ sẽ là gánh nặng khổng lồ cho ngân sách.

Không những thế, Trung Quốc tự đánh mất hình ảnh phát triển hòa bình đã xây dựng nhiều năm qua bằng những yêu sách phi lý dựa trên các chứng cứ không được công nhận và thái độ gây căng thẳng mở rộng cùng với ngân sách quốc phòng tăng cao.

Sự thay đổi này có thể sẽ khiến các quốc gia lân cận quan ngại và đặc biệt Đông Nam Á sẽ nhanh chóng tập hợp thành một khu vực chung nhằm đối phó lại các yêu sách này.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và cách hành văn của các tác giả, vốn là thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Nguồn : BBC

Posted in Khi con trưởng thành, Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

Việt Nam không đơn độc trên biển Đông

Posted by daothu09 on June 27, 2011

NLĐ – Thứ Bảy, 25/06/2011 17:39

Ông Đàm Quang Minh, thành viên Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, nhận định như vậy và cho rằng Việt Nam có cơ sở pháp lý với chủ quyền trên biển Đông

Ngư dân vẫn kiên trì ra khơi, đánh bắt trên vùng biển chủ quyền của VN. Ảnh: T. Kim

* Phóng viênÔng nhận xét gì trước việc Trung Quốc một mặt tỏ ra hung hăng tới mức dọa dùng sức mạnh quân sự để áp đặt yêu sách “đường lưỡi bò” nhưng mặt khác lại đòi Mỹ tránh xa tranh chấp trên Biển Đông

– Ông Đàm Quang Minh: Các nước Đông Nam Á và Trung Quốc đã xác nhận có những vùng tranh chấp trên khu vực biển Đông và cùng cam kết thực hiện Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC). Tuy nhiên, Trung Quốc hiện đang đánh lạc hướng bằng tranh chấp với yêu sách “đường lưỡi bò” chín đoạn phi lý. Do không có cơ sở pháp lý theo Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982) để đòi yêu sách “đường lưỡi bò” trên biển Đông nên Trung Quốc đã có những hành động gây hấn nhằm biến vùng biển không có tranh chấp thành có tranh chấp. 

* Thưa ông, bước tiếp theo Trung Quốc sẽ làm gì? 

– Trung Quốc hiện đang đưa mình vào thế khó khi tự tạo sức ép dư luận trong nước bằng cách đưa khái niệm mơ hồ về chủ quyền trên biển Đông. Họ muốn dân chúng Trung Quốc tin rằng Việt Nam, Philippines đang hưởng lợi hàng tỉ USD trên dầu mỏ tại khu vực tranh chấp gây dư luận rất xấu về hình ảnh Việt Nam và tạo nên làn sóng đòi sử dụng vũ lực. Trong khi đó, trên thực tế chưa có hoạt động kinh tế đáng kể nào trong khu vực tranh chấp. Nhiều người dân Trung Quốc đang hiểu nhầm và có một bộ phận thanh niên thực sự muốn gây chiến. Dư luận báo chí Trung Quốc vì vậy cũng bị ảnh hưởng. Cũng cần phải khẳng định rằng tham vọng của Trung Quốc trên biển Đông là có thật khi họ đã tính toán, chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Vấn đề là ở chỗ họ thể hiện tham vọng này như thế nào mà thôi. 

* Ông nghĩ sao trước việc ngày càng có thêm nhiều nước phản đối Trung Quốc trong vấn đề biển Đông

– Với yêu sách “đường lưỡi bò”, Trung Quốc đang đòi quyền sở hữu gần như toàn bộ biển Đông, chiếm quyền kiểm soát tài nguyên cũng như tuyến hàng hải quan trọng. Sức ép quốc tế đương nhiên sẽ tăng vì không quốc gia nào muốn xin ân huệ của Trung Quốc khi sử dụng vùng biển quốc tế này. Việt Nam trong trường hợp này cần phải tranh thủ sức mạnh từ cộng đồng quốc tế.

Ngư dân Lý Sơn (Quảng Ngãi) chuẩn bị ra khơi. Ảnh: T. Kim

* Ông có đề xuất gì cho Việt Nam trong kết nối với ASEAN để đối phó với yêu sách của Trung Quốc

– Tôi nghĩ rằng chúng ta cần thực hiện ba bước. Thứ nhất, vùng biển này ảnh hưởng sâu sắc đến an ninh của nhiều quốc gia nên chắc chắn họ không thể đứng ngoài cuộc, đặc biệt là các quốc gia Đông Nam Á, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ. Vì vậy, Việt Nam không đơn độc nếu thể hiện thiện chí của mình. Nhanh chóng đạt được những thỏa thuận với các quốc gia ASEAN, Việt Nam sẽ tạo được thế đứng vững hơn. 

Thứ hai, người dân Trung Quốc không được cung cấp đầy đủ thông tin đã gây sức ép không nhỏ cho giới truyền thông, Việt Nam hơn ai hết cần đưa ra những thông tin chính xác trên nhiều kênh để có thể đưa ra lẽ phải của mình, đặc biệt trên kênh tiếng Hoa và tiếng Anh. Việt Nam cũng cần tranh thủ được Việt Kiều và Hoa Kiều vốn có điều kiện tiếp xúc tốt hơn để đưa thông tin đến dân chúng Trung Quốc và thế giới. 

Thứ ba, luôn sẵn sàng cho các tình huống xấu nhất để không bị động. Luôn cảnh giác và có chuẩn bị trước cho các diễn biến mới. 

* Khi cơ chế UNCLOS chưa phát huy hiệu quả trong giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, Việt Nam cần phải chuyển hướng ra sao để bảo vệ lợi ích của mình

– Rõ ràng là Trung Quốc có sự tính toán khi đã đưa ra điều khoản bảo lưu quyền kiện Trung Quốc ra Tòa án về luật biển quốc tế (ITLOS) và hơn nữa, Trung Quốc cũng gây những ảnh hưởng nhất định để tổ chức này có được thẩm phán là người Trung Quốc. Vị thẩm phán này cũng không úp mở khi nói thẳng rằng “nếu không có tổ quốc tôi thì không được ngồi vào vị trí này”. Như vậy, có thể nói Việt Nam khó dùng UNCLOS 1982 để kiện Trung Quốc và ITLOS cũng chưa chắc bảo đảm tính công minh để có thể tham gia. Nhưng dù sao UNCLOS 1982 hiện vẫn cần phải là căn cứ quan trọng để Việt Nam tranh thủ sự ủng hộ của thế giới. 

Việt Nam và các quốc gia Đông Nam Á khác có cơ hội lớn để đạt được những thỏa thuận quan trọng. Philippines gần đây và Malaysia trước đó đã có những quan điểm rất gần Việt Nam. Indonesia, Thái Lan và Campuchia thì đã phân định xong ranh giới trên biển với Việt Nam. Nếu ASEAN có thể xây dựng được vùng biển quốc tế chung để cùng phối hợp chống cướp biển, khủng bố và các hoạt động xâm lấn khác thì chắc chắn sẽ được sự ủng hộ của cộng đồng thế giới và tạo ra được sức mạnh nội khối. 

Viễn cảnh về khu vực ASEAN thống nhất cả trên bộ lẫn trên biển là một hình ảnh đẹp cần nỗ lực được xây dựng trên sự đoàn kết và quyền lợi chung. Biển Baltic của châu Âu cũng đã được phân chia một cách hòa bình cho dù lúc đó chưa ra đời Luật Biển quốc tế. Chúng ta cần học tập từ bài học đó. 

Diệp Linh (thực hiện)

Posted in Khi con trưởng thành | Leave a Comment »