ĐÀO HỒNG THU

Welcome to my blog

Archive for the ‘Ngôn ngữ và Văn hóa’ Category

Nhìn lại Đồi Ngô: Dột từ nóc và đã dột từ rất lâu rồi! (Chuyện thứ ba)

Posted by daothu09 on September 19, 2012

Đồi Ngô ở Bắc Giang. Hiện tượng quay cóp trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông ở Đồi Ngô vừa qua tự nhiên làm tôi nhớ lại hàng loạt vụ việc tương tự, xảy ra tại một Trường Đại học lớn, ngay giữa Trung tâm Hà Nội, từ thế kỷ XX. Dù là thi tốt nghiệp PTTH hay thi đại học, dù là thời gian cách nhau đến hơn 30 năm, nhưng hiện tượng và “đối tượng” vẫn là vậy. Chỉ có điều, hồi đó thí sinh không BẠO DẠN như bây giờ. Bây giờ, các hình thức quay cóp trong thi cử tinh vi hơn, thiết bị sử dụng trong phòng thi phong phú và hiện đại hơn nhiều.

Chuyện thứ ba:

Năm 2000, Trường ĐHBK Hà Nội bắt đầu tuyển sinh khóa 1 hệ chính qui Cử nhân tiếng Anh chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ (cần phải xác định rõ rằng, cụm từ “ngôn ngữ (hoặc ngoại ngữ, hoặc tiếng Anh và v.v.) chuyên ngành khoa học kĩ thuật và công nghệ” là cụm từ được sử dụng lần đầu tiên bằng tiếng Việt trong các bài báo và Luận án Tiến sĩ của tôi từ năm 1996). Trong kì thi tuyển sinh đại học khối D của Trường ĐHBK Hà Nội khóa đầu tiên, tôi được phân công chấm thi khối D của Trường.

Trong phòng chấm thi tuyển sinh đại học, khi chúng tôi đang chấm thi được khoảng 30 phút thì xuất hiện Phó phòng Quan hệ Quốc tế của Trường lúc bấy giờ, PTS. TPH bước vào phòng, đứng “án ngữ” ngay trước cửa phòng, cười nói với cán bộ chấm thi, “nhảy múa” lung tung (?!). Phải nói rằng, vị Phó tiến sĩ này biết rất rõ nội qui phòng chấm thi đại học nên không dám tiến sâu xuống các bàn phía dưới mà chỉ dám đứng cách cửa ra vào hơn 1m.

Sau buổi chấm thi sáng hôm đó, Hội đồng chấm thi môn tiếng Anh của chúng tôi xảy ra sự cố. Đó là cán bộ chấm thi VTH đã nhìn thấy Trưởng nhóm chấm thi là Phó chủ nhiệm Khoa NTT đã tự ý chữa bài thi của thí sinh rồi kẹp vào tập bài và chuyển cho cán bộ chấm thi. Cán bộ chấm thi VTH đã báo lại sự việc cho Chủ tịch công đoàn Khoa HXN. Trước việc nghiêm trọng này, Chi bộ và Ban chủ nhiệm Khoa Ngoại ngữ VÀO CUỘC. Kết quả là cán bộ chấm thi – giảng viên VTH phải giải trình và phải chuyển sang Bộ môn Tiếng Anh, mà không được giảng dạy tại Bộ môn Lý thuyết tiếng do PCN Khoa kiêm Chủ nhiệm Bộ môn Lý thuyết tiếng NTT phụ trách.

Xui xẻo thế nào, hôm đó vị trí tôi ngồi chấm bài lại quay lưng lại phía Trưởng nhóm chấm thi và lại NHẬN ĐÚNG phải tập bài có bài bị sửa. Khi chấm, tôi cũng đã có nghi ngờ, nhưng vì bài thi “được đảm bảo là nghiêm chỉnh” từ phía người có trách nhiệm nên chúng tôi chấm bình thường. Tuy không có lí do gì để buộc tôi phải GIẢI TRÌNH sự việc, trong các kỳ chấm thi đại học sau đó, tôi không còn được tham gia bất kì hội đồng nào.

Còn Phó chủ nhiệm Khoa NTT vẫn điềm nhiên PHỤ TRÁCH các hội đồng coi thi và chấm thi cho đến khi về hưu.

Sau khi về hưu, thạc sĩ, nguyên Phó chủ nhiệm Khoa, Trưởng Bộ môn, Phó bí thư chi bộ Khoa Ngoại ngữ, ĐH Bách khoa Hà Nội NTT tiếp tục nhận chức Chủ nhiệm Khoa Ngoại ngữ của một trường đại học tại Nam Định.

Hà Nội, ngày 17/09/2012

Advertisements

Posted in Kỷ niệm ĐHBK Hà Nội, Ngôn ngữ và Văn hóa, Truyện ngắn và Thơ | Leave a Comment »

Nhìn lại Đồi Ngô: Dột từ nóc và đã dột từ rất lâu rồi! (Chuyện thứ hai) )

Posted by daothu09 on August 8, 2012

Nguồn ảnh: internet

Đồi Ngô ở Bắc Giang. Hiện tượng quay cóp trong kỳ thi tốt nghiệp phổ thông ở Đồi Ngô vừa qua tự nhiên làm tôi nhớ lại hàng loạt vụ việc tương tự, xảy ra tại một Trường Đại học lớn, ngay giữa Trung tâm Hà Nội, từ thế kỷ XX. Dù là thi tốt nghiệp PTTH hay thi đại học, dù là thời gian cách nhau đến hơn 30 năm, nhưng hiện tượng và “đối tượng” vẫn là vậy. Chỉ có điều, hồi đó thí sinh không BẠO DẠN như bây giờ. Bây giờ, các hình thức quay cóp trong thi cử tinh vi hơn, thiết bị sử dụng trong phòng thi phong phú và hiện đại hơn nhiều.

Chuyện thứ hai:

Sang đến những năm 90, thế kỷ XX, cán bộ Trường Đại học Bách khoa Hà Nội không phải đi tuyển sinh tại các tỉnh, mà được phân công coi thi ngay tại các cơ sở trường học tại nội, ngoại thành Hà Nội.

Một lần, vào năm 1996, Khoa Ngoại ngữ được Trường thành lập Hội đồng coi thi độc lập tại một trường học tại nội thành Hà Nội do Trưởng Khoa NHH làm Chủ tịch Hội đồng. Tại Hội đồng coi thi này, tôi được phân công làm giám thị I, tức là phải chịu trách nhiệm chính về công việc trong phòng thi.

Sáng ngày thi thứ hai, thí sinh thi môn cuối cùng là môn Hóa học. Mặc dù đã được học Quy chế thi và nhắc nhở trước khi vào phòng thi, tại phòng thi của tôi vẫn có thí sinh lén mang tài liệu và quay cóp bài. Tôi đã bắt tại chỗ tài liệu của thí sinh khi đang chép bài từ tài liệu và vì là giám thị I nên tôi phải làm Biên bản vi phạm Nội quy thi đối với thí sinh này. Theo quy định, bài của thí sinh, ít nhất, sẽ bị trừ 25% kết quả điểm bài thi.

Sau khi “xin tha” không được, tôi thấy thí sinh bị lập biên bản chạy vội ra ngoài. Lát sau, khi tôi đang ra nhà xe để lấy xe về nhà, có một người đàn ông đứng chặn xe tôi và đe dọa: “Cái loại người như mày thì làm được gì hả? Tao đã bảo được chúng nó vứt Biên bản mày ký phạt con tao rồi đấy?! Tao bảo cho mày biết, mày mà vớ vẩn để lộ chuyện này, sẽ có đứa xử mày?!!”

Sau đó, tôi mới biết chính Chủ tịch Hội đồng thi của tôi đã xé Biên bản đối với thí sinh vi phạm nội quy thi và sửa lại thông tin trong bản Báo cáo về tình hình phòng thi của tôi. Khi tôi hỏi tại sao lại như vậy, Chủ tịch Hội đồng thi – Trưởng Khoa Ngoại ngữ, ĐH Bách Khoa Hà Nội chỉ … nhếch mép cười nhạt.

Hà Nội, ngày 8/8/2012

Posted in Kỷ niệm ĐHBK Hà Nội, Ngôn ngữ và Văn hóa, Truyện ngắn và Thơ | Leave a Comment »

Chuyện nghe được trên xe buýt

Posted by daothu09 on March 23, 2012

 

Hình minh họa. Nguồn: internet

Hôm nọ, trên xe buýt, tôi tình cờ nghe được các cụ bà nói chuyện với nhau. Tuy đã ở tuổi lục, thất thập, tóc đã bạc gần hết đầu, nhưng trông các cụ vẫn còn nhanh nhẹn. Qua câu chuyện tình cờ nghe được trên xe buýt giữa hai cụ bà nọ, tôi không ngờ các cụ bà Việt Nam xưa nay vốn nổi tiếng là thương chồng, yêu con, chỉ chuyên tâm chăm sóc gia đình này lại am hiểu tình hình đất nước đến như vậy. Sau khi nhớ lại thời thanh niên xung phong của mình và trao đổi thời sự, các cụ “xoay quanh” chuyện “muôn thuở” về cuộc sống.

Cụ A: chị năm nay bao nhiêu tuổi rồi?

Cụ B: tôi 78 rồi. Thế còn chị?

Cụ A: em kém chị gần chục tuổi. Trông chị vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn thật đấy.

Cụ B: vì tôi chỉ có con trai, ốm đau đều phải tự lo nên được như vậy (cụ cười). Tóc chị vẫn chưa bạc nhỉ?

Cụ A: tóc em bạc trắng đầu rồi, chứ không được hoa râm như chị. Em nhuộm tóc đấy. Chị có con trai sướng thật đấy. Em toàn con gái.

Cụ B (cười): cũng sướng thật, cái gì cũng phải tự làm nên dẻo dai, khỏe lâu. Chị có con gái chắc được con chăm sóc tử tế?

Cụ A: có một cháu ở với em, cũng đỡ, nhưng mẹ con vất vả lắm. Nhiều thứ lo không nổi. Có con trai vẫn hơn.

Đến đây thì các cụ đều chợt im lặng và im lặng đến tận khi đến bến xuống.

Hà Nội, ngày 21/03/2012

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa, Truyện ngắn và Thơ, VĂN HÓA và NGÔN NGỮ (Culture and Language) | Leave a Comment »

Nhân chuyện Lê Nguyễn Quỳnh Anh

Posted by daothu09 on February 29, 2012

Ảnh chụp trước KTX Trường Tàu (LKI, 1974). Anh Tuấn đứng bìa phải, anh Khoa chụp hình.

 

Ảnh chụp trên sân vận động (1974). Anh Khoa ngồi bìa phải.

 
Việc lùm xùm và gây xôn xao dư luận đến tận Quốc hội quanh chuyện thi hát của Lê Nguyễn Quỳnh Anh và phát biểu của người mẹ tại Chương trình Vietnam’s Got Talent 7, đối với tôi chắc chẳng có gì đáng chú ý vì tôi vốn không quan tâm đến các cuộc thi như thế này.

Tuy nhiên, khi tình cờ xem lướt qua bài báo trên mạng, tôi chợt thấy tên Nguyễn Thị Ngọ, Chủ tịch HĐQT … quen quen. Đọc kỹ hơn thì đúng là người quen thật, thậm chí còn hơn thế nữa vì anh Lê Anh Tuấn là bạn học cùng thời sinh viên, lại còn cùng phòng ở ký túc xá Trường Đóng tàu Leningrad (LKI) với anh Khoa, chồng tôi.

Thời sinh viên, chúng tôi có may mắn hơn Tuấn Ngọ là được học cùng thành phố, còn chị Ngọ học tại Trường ĐH Tài chính Plexanov, Moscow. Vì anh Khoa và anh Tuấn thân nhau nên tôi cũng được thông tin về chị.

Cần phải nói ngay rằng, chị Ngọ là người rất tháo vát, nhạy bén với thời cuộc, thích giao lưu với những người cao sang và luôn chứng minh bản thân mình. 

Khi biết chuyện của mẹ con chị, quả thật, tôi cũng muốn gọi điện hỏi thăm anh chị và động viên tinh thần cháu Quỳnh Anh, nhưng … rất ngại.

Chuyện như kiểu thế này thì ở Việt Nam đã có từ rất lâu rồi, chỉ có điều, tùy từng lĩnh vực và thời kỳ. Ví dụ, trong những năm 80, thế kỷ XX thì “hot” là thi và học các lớp chuyên, đặc biệt là chuyên Toán.

Chuyện về con mồ côi cha theo học lớp chuyên Toán và sự khốn khổ của người mẹ khi nuôi dạy con, đồng thời phải bảo vệ con mình trước những phụ huynh “quái dị”: 

https://daothu09.wordpress.com/category/gia-dinh-my-family/con-h%e1%bb%8dc-chuyen-toan/ 

https://daothu09.wordpress.com/2011/05/26/12-m%e1%bb%99t-nam-d%e1%bb%83-%e2%80%9cd%e1%ba%a5u-%e1%ba%a5n%e2%80%9d-su%e1%bb%91t-d%e1%bb%9di-%e2%80%93-1997/ 

https://daothu09.wordpress.com/2010/08/23/4-%e2%80%9cch%e1%bb%8b-khong-co-ti%e1%bb%81n-ma-l%e1%ba%a1i-mu%e1%bb%91n-cho-con-ch%e1%bb%8b-h%e1%bb%8dc-sang%e2%80%9d/ 

https://daothu09.wordpress.com/2010/08/21/chuy%e1%bb%87n-khi-con-h%e1%bb%8dc-l%e1%bb%9bp-5-chuyen-toan-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-tr%c6%b0ng-v%c6%b0%c6%a1ng/ 

Hà Nội, ngày 28/02/2012

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

Seminar “Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936) và hành trình chữ quốc ngữ”

Posted by daothu09 on February 28, 2012

Nguyễn Văn Vĩnh (1882 - 1936). Nguồn: internet

Hôm nay, tôi đi dự Seminar “Nguyễn Văn Vĩnh (1882 – 1936) và hành trình chữ quốc ngữ”, diễn giả: Nguyễn Lân Bình, Lại Nguyên Ân, Mai Thành Chung, Dương Trung Quốc do Quỹ Văn hóa Phan Châu Trinh và Nhà xuất bản Tri thức tổ chức tại VUSTA, Hà Nội.

Có rất nhiều thính giả cao niên đến dự Seminar này. Bản thân tôi cũng thấy nhiều điều trước đây chưa được biết. Dù sao, tôi cũng cập nhật được cho mình nhiều vấn đề, đặc biệt về chữ quốc ngữ là vấn đề liên quan trực tiếp đến chuyên môn tôi đang nghiên cứu và chuẩn ngôn ngữ tôi đang cần.

Hà Nội, ngày 17/02/2012  

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

VTV1: dịch tin thời sự kiểu gì?

Posted by daothu09 on February 21, 2012

Nguồn: Wikipedia

Trưa nay, mở tivi xem, VTV1 đang phát chương trình Bản tin thời sự buổi 12h. Đến phần tin quốc tế, tin nước Nga với phát biểu của Tổng thống Nga Medveev. Ngay câu đầu, khi chưa có lời Việt, tôi nghe TT nói như sau: ”Наша политическая система далеко не идеальна.” Câu này được phát thanh viên chương trình đọc lời dịch là: “Hệ thống chính trị của chúng ta còn lâu mới hoàn chỉnh”??!!! Tôi nghe xong mà LẠNH NGƯỜI, Ù TAI.

Chẳng biết những câu tiếp theo phát thanh viên đọc được dịch đúng, sai ra sao, tôi thấy không còn HỨNG để nghe nốt bản tin.   

Hà Nội, ngày 21/02/2012

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

Canh bạc cuộc đời

Posted by daothu09 on July 23, 2011

Nguồn ảnh : VLOS

 TP (2006) – Không phải vô cớ Đào Duy Anh trong “Việt Nam văn hóa sử cương” đã nói rằng máu cờ bạc là một trong những đặc tính tiêu biểu của dân tộc.

Trong đời người mỗi dân Việt ai chẳng một vài lần đánh bạc, có những người đánh bạc thành nghiệp và một sự thật phũ phàng hơn là với nhiều người cuộc đời là một canh bạc lớn mà đôi khi chính họ không hình dung được rủi ro có thể gặp.

Xin không bàn đến những việc bài bạc thường tình những ngày lễ tết hay những lúc nhàn rỗi hay lôi nhau ra sát phạt. Cũng xin không bàn đến các quan chức xã đánh bạc ở nhiệm sở bị đưa lên mặt báo. Và cũng xin không bàn đến các ông tổng nọ tổng kia tham gia đánh bạc hàng triệu đô. Mà những dòng tâm sự này chỉ mong nói đến một canh bạc cuộc đời với bản tính của người Việt.

Cái máu cờ bạc đã ăn sâu vào mỗi người dân Việt đến mức đôi khi họ không còn nhận ra điều đó. Nó ngấm vào từng suy nghĩ cầu mong những hạnh phúc bất ngờ mà không cần phải vất vả bon chen. Phải chăng nó bắt nguồn từ cuộc sống quá khó khăn không thấy lối thoát, có lẽ không phải! Hay đấy là vì mục đích giải trí đơn thuần, cũng không hẳn là như thế. Chỉ biết rằng, những lĩnh vực như là thị trường chứng khoán, bất động sản được mọi người hào hứng xông vào với từ “chơi”. Họ đổ xô nhau vào “chơi”, từ người giàu đến không giàu lắm và chơi bằng vốn của mình cũng như vay mượn. Hình ảnh chăm chú theo dõi biến động và những lời bàn kháo nhau giống hệt như dòng người ào ạt vào các sòng bạc để rất ít người bước ra một cách đắc ý. Tất cả tưởng chừng như giật được nhanh chóng tiền của thiên hạ. Rồi các làn sóng bán hàng đa cấp cũng nhanh chóng thu hút được những người dân Việt máu me làm giàu nhanh chóng. Tất cả như một canh bạc, với số tiền đầu tư ít ỏi, ai cũng sẵn sàng bước vào với giấc mơ hồng để rồi đa số phải thất vọng và trả giá.

Tưởng rằng những người ít học mới ham mê những canh bạc, nhưng không những người tham gia vào canh bạc này thực sự lại là những người được gọi là có tri thức. Các ông bố, bà mẹ sẵn sàng bỏ tiền gấp hàng chục đến hàng trăm lần số tiền lương sẽ được nhận cho con cái mình có việc làm. Những người “thức thời” sẵn sàng bỏ ra số tiền khổng lồ chạy chọt vào những vị trí với mức lương bèo bọt. Tại sao vậy? Họ đang muốn tham gia vào một trò chơi, một canh bạc của cuộc đời. Họ dấn thân vào những chỗ chưa hẳn đã thích hợp với mình, đầu tư khoản tiền khổng lồ với hy vọng đến lượt mình sẽ lại thu tiền của người khác. Người ta thường kháo nhau rằng, cảnh sát giao thông muốn được đứng đường không phải là đơn giản. Một số tiền lớn đã được lo lót và đến lượt họ bất chấp liêm sỉ, danh dự bòn mót từng đồng vất vả của cánh lái xe. Giáo viên vốn là một nghề cao quý nhưng cũng không tránh được thảm cảnh của canh bạc. Để có được một chân giảng viên ở một trường danh tiếng có nghĩa đi đôi với độ dày của tập giấy người ta gọi trắng trợn ra là tiền chứ không phải bằng cấp hay danh tiếng. Người ta có thể dễ dàng nhận ra các lãnh đạo một trường cấp 3 vi vu đi làm bằng xe con như những thương gia hạng nhất. Những cái oai, cái vẻ hào nhoáng bên ngoài này đã được xây đắp từ bòn rút của nhiều thế hệ giáo viên, học sinh. Đến lượt mình, các giáo viên với đồng lương thực tế ít ỏi lại phải gồng mình vừa kiếm sống, vừa trả lại món nợ đã phải đầu tư ban đầu. Họ đã tham gia vào một canh bạc một cách vô thức mà không biết. Những bộ mặt lạnh lùng, giọng gắt gỏng cáu kỉnh và đôi khi là chửi bới có thể dễ thấy ở nơi người ta đáng được an tĩnh như bệnh viện. Tại đó, có những viên chức tự cho mình cái quyền được cao giọng với người khác chỉ vì người đó đang nhờ lụy mình. Thực tế rằng những người đáng an dưỡng và bị gắt gỏng kia lại đang trả tiền và nuôi sống những người gắt gỏng họ bằng những cách trực tiếp thô thiển sau tờ phong bì hay gián tiếp qua bệnh viện. Và một thực tế phũ phàng rằng, để có được một chân trong một bệnh viện “ngon” thì số tiền chi ra cũng phải rất “ngon”. Như vậy họ là những người trước hết là đáng trách nhưng cũng là những nạn nhân của canh bạc cuộc đời mà họ tham dự. Vì mong muốn có cuộc sống đầy đủ hơn về mặt vật chất, họ cùng nhau bán rẻ lương tâm và ngang nhiên như là một sự hiện nhiên của xã hội hiện tại. Trong các cuộc đấu thầu, người ta thán phục những ai dám “chơi”, càng dám “chơi” càng chứng tỏ một bản lĩnh của những tâm hồn Việt đang đánh bạc với cuộc đời. “chơi” ở đây đồng nghĩa với “chi”, người “dám chơi” là người dám chi, dám „lại quả“ mạnh tay hơn mà vẫn hợp thức hóa được tất cả chứng từ và bịt mắt được công luận. Người ta cũng thán phục nhau giỏi tài biến báo và hợp lý hóa các thủ tục lắt léo. Mỗi khi lương tâm vấn hỏi thì một cách nhẹ nhàng “cái cơ chế nó thế”, vâng, trăm sự tại cái “cơ chế”, một cách đổ tội tài tình hợp lý cũng như cách đây chưa lâu người ta đổ tội cho “lịch sử”. Không gì dễ bằng đổ tội cho cái mà chẳng thể nào thanh minh, “lịch sử”, “cơ chế” chẳng bao giờ biết cãi lại mà chỉ im lặng nhận bao nhiêu thứ tội lỗi người ta đang trút lên đầu mình.

Một niềm đau nhức nhối mà mỗi người hàng ngày đối mặt không cách giải quyết, mỗi người đều phải gặm nhấm nó để rồi lúc nào đó lại chà xát lên nỗi đau của người khác để thấy mình có vị trí một chút, có oai một chút, một chút hả lòng để quên đi những khó khăn hiện tại. Tại sao chúng ta lại cứ phải đay nghiến, hành hạ nhau trong cuộc sống đã đầy rẫy khó khăn? Tại sao những người Việt lại ham mê trong canh bạc cuộc đời của chính mình. Hình ảnh các tiếp viên nam nữ hàng không Việt Nam lễ mễ bê đủ các loại mỹ phẩm tại sân bay Frankfurt để kiếm thêm thu nhập, giáo viên thu từng đồng khó nhọc của sinh viên, các y tá thu từng chục ngàn của bệnh nhân mong được nhẹ nhàng khi đối xử, hay cảnh sát giao thông phục kích từng đồng của cánh lái xe như những nỗi đau cấu xé lòng của những người chưa vô cảm.

Nhưng có một sự thật là khi phải sống trong những nỗi đau thì con người ta cũng trở nên chai sạn, tàn nhẫn hơn. Họ cũng sẵn sàng gây những nỗi đau cho người khác mà không cần áy náy và suy nghĩ. Đời là thế!

TS. Đàm Quang Minh

Posted in Khi con trưởng thành, Ngôn ngữ và Văn hóa, Truyện ngắn và Thơ | Leave a Comment »

Sai lầm của TQ trong tranh chấp Biển Đông

Posted by daothu09 on July 23, 2011

Đàm Quang Minh, Lê Vĩnh Trương

Quỹ nghiên cứu Biển Đông

Tàu hải giám của Trung Quốc bị cáo buộc xâm phạm hải phận Việt Nam trong vụ “cắt cáp” tàu Bình Minh 02.

 

Những hoạt động quân sự thường xuyên của Trung Quốc đặc biệt tại các khu vực Biển Đông Việt Nam hay Biển Nam Trung Hoa đã gây nên những lo lắng cho các quốc gia Đông Nam Á.

Nếu trước đây các quốc gia có tranh chấp đối thoại trực tiếp với Trung Quốc thì nay đã hợp tác với nhau để đối phó với các chiến lược của Bắc Kinh bất chấp tầm ảnh hưởng của cộng đồng người Hoa đông đảo có vai trò kinh tế lớn trong khu vực.

Dẫu rằng đã có một sự toan tính giữa nguyên tắc và lợi ích, các quốc gia ASEAN vừa đón tiếp Trung Quốc vừa e dè quốc gia láng giềng mà hồi tháng 3/2011 thì quấy phá Cỏ Rong gần Philippines, còn tháng 5/2011 thì liên tiếp cắt cáp Bình Minh 02 và Viking II của Việt Nam.

Sau sự kiện đó, Philippines lần đầu tiên đã tỏ thái độ rất cứng rắn với Trung Quốc khi không chấp nhận các yêu sách của Trung Quốc và gửi kiến nghị lên Liên hợp quốc(5/4/2011).

Trước đó, Indonesia cũng lần đầu tiên gửi công hàm đến Liên Hiệp Quốc phản đối “đường chữ U” (8/7/2010) dù rằng Indonesia không hề có liên quan đến tranh chấp các đảo ở Hoàng Sa hay Trường Sa.

Theo Reuter, năm 2011 Trung Quốc tăng ngân sách quân sự 12,7% lên mức 91,5 tỷ USD, gấp bảy lần so với năm 1999 gần bằng tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của cả Việt Nam.

Đồng thời với tăng chi phí quân sự, các đơn vị dân sự liên quan đến biển cũng được tăng cường và có tầm hoạt động ngày càng xa bờ. Điển hình lớn nhất có thể kể đến tàu sân bay Shi Lang và giàn khoan dầu CNOOC 981 với trị giá gần 1 tỷ USD.

Như vậy, có thể thấy Trung Quốc đã sẵn sàng chi nhiều tỷ USD cho chiến lược biển và sẵn sàng duy trì lực lượng quân sự lớn phục vụ chiến lược này.

Mục tiêu vì dầu khí?

Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân, không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực phía xa hơn nằm phía Nam Biển Đông

Trong tất cả mục tiêu khi đề ra chiến lược tại Biển Đông (mà Trung Quốc gọi là Biển Nam Hải), các lãnh đạo Trung Quốc đều nhận định khu vực này như là một Vịnh Ả Rập thứ hai với trữ lượng dầu mỏ hàng chục tỉ tấn. Và vì vậy Trung Quốc không thể đứng ngoài cuộc.

Căn cứ lớn nhất cho Trung Quốc tham gia vào cuộc chơi dầu mỏ duy nhất dựa vào khái niệm “vùng nước lịch sử” vì ngoài khái niệm mơ hồ này thì Trung Quốc cũng chỉ có thể tranh chấp tại các vùng nước sâu không có tiềm năng dầu khí gì.

Do đó, Trung Quốc quyết tâm đưa căn cứ đường chữ U dựa trên khái niệm mơ hồ “vùng nước lịch sử” mà không dựa trên các tiêu chuẩn quốc tế khác mạnh hơn như luật biển 1982.

Nhưng những tính toán mang tính chiến lược đó liệu có thực sự có hiệu quả trên thực tế?

Đầu tiên có thể thấy khu vực có dầu khí chủ yếu nằm ở phía nam và rìa của đường chữ U. Các khu vực này rất gần đất liền của các quốc gia Đông Nam Á nên có thể thấy việc duy trì lực lượng bảo vệ ở đây với các quốc gia này là khá dễ dàng.

Ví dụ điển hình khi các tàu Trung Quốc có hoạt động tại khu vực gần bờ biển Philippines thì ngay lập tức lực lượng không quân nước này sẵn sàng bảo vệ để tàu nghiên cứu của mình tiếp tục hoạt động.

 

Bản đồ ‘lưỡi bò’ của Trung Quốc bị các quốc gia tại Biển Đông cáo buộc là vô căn cứ và xâm phạm chủ quyền.

Trong khi đó, Trung Quốc khó lòng duy trì lực lượng hải quân, không quân đông đảo thường xuyên đi quá xa căn cứ của mình đặc biệt ở khu vực phía xa hơn nằm phía Nam Biển Đông.

Thứ hai, theo tính chất địa chất khu vực này, vùng phía bắc của Biển Đông do sụt lún trong Kỷ Đệ Tứ quá nhanh nên không thể hình thành được dầu khí.

Khu vực phía nam lý tưởng hơn với các nguồn dầu khí chủ yếu nằm trong các khối đá gốc granit với tầng chắn là trầm tích Oligocene và Miocene.

Các dạng dầu khí này cũng thuộc dạng rất khó khai thác và nhiều công ty dầu khí đã phải rút lui, nhất là với các lô dầu khí nằm ở phía bắc hơn của khu vực này.

Không chỉ có vậy mà theo các nghiên cứu của các quốc gia này thì trữ lượng dầu khí tại khu vực đang có dấu hiệu sụt giảm sản lượng.

Các công ty dầu khí lớn của các quốc gia này bắt đầu phải tìm kiếm nguồn dầu khí mới tại các quốc gia xa xôi như Châu Phi hay Châu Mỹ để đáp ứng nhu cầu tăng cao của nền kinh tế.

Do đó, có thể nói chiến lược độc chiếm biển Nam Hải của Trung Quốc vì dầu khí là hoàn toàn vô căn cứ và không hề có triển vọng thật sự.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm niềm tin rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá

Không những Trung Quốc không có được nguồn lợi này mà còn càng trở nên khó khăn khi tiếp cận các nguồn tài nguyên của các quốc gia trong khu vực như trường hợp Tập đoàn dầu khí quốc gia Trung Quốc bị từ chối khi đầu tư khai thác tại đây.

“Hòa bình phá sản”

Chính sách ngoại giao Trung Quốc luôn được nhắc đến với cụm từ Phát triển hòa bình với chia sẻ Trung Quốc từng là nạn nhân của đế quốc.

Nhưng dường như các quốc gia lân cận đặc biệt như Ấn Độ, Nga, Nhật Bản và các quốc gia Đông Nam Á đang càng ngày càng cảm thấy quan ngại trước sự đầu tư lớn của Trung Quốc trong lĩnh vực quân sự.

Cùng với nhiều tuyên bố và hành động, người ta đang thấy hình ảnh của một đế quốc đang hình thành bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế và đang chuyển sang quân sự.

Các quốc gia có FDI của Trung Quốc như các quốc gia Đông Nam Á và Châu Phi bắt đầu dè dặt hơn với các khoản đầu tư bắt nguồn từ Trung Quốc với lo ngại tham vọng chính trị của các khoản tiền này.

 

Trung Quốc thường tuyên bố bắt giữ các tàu cá nước ngoài trên Biển Đông trong thời gian gần đây.

Các tuyên bố cứng rắn và không đếm xỉa gì đến luật pháp và không tuân theo các chuẩn mực quốc tế càng làm tăng thêm niềm tin rằng Trung Quốc quyết tâm trở thành một đế quốc mới bằng mọi giá bất chấp các lời lẽ mềm dẻo từ phía ngoại giao của chính quyền Bắc Kinh.

Cùng với việc bắt tay chặt chẽ với Pakistan, một lần nữa Trung Quốc lại đẩy Ấn Độ vào thế phải phòng ngừa và không loại trừ khả năng Ấn Độ sẽ đẩy mạnh việc ủng hộ các lực lượng ly khai tại Tây Tạng và nhích lại gần hơn với Hoa Kỳ.

Không những vậy các quốc gia khác đang thấy vai trò của Trung Quốc trong việc duy trì sự tồn tại của các thể chế chính trị gây phức tạp cho hòa bình thế giới như ủng hộ với Bắc Triều Tiên, Miến Điện hay Sudan.

Như vậy với quyết định tăng cường sức mạnh quân sự, đe dọa các quốc gia lân cận và ủng hộ các quốc gia hiếu chiến, chắc chắn hình ảnh phát triển hòa bình của Trung Quốc sẽ được thay bằng một hình ảnh một đế quốc mới muốn thể hiện sức mạnh của mình.

Điều này chưa chắc đã có lợi cho sự phát triển trung và dài hạn của Trung Quốc.

“Tự cô lập mình”

Sự thay đổi này có thể sẽ khiến các quốc gia lân cận quan ngại và đặc biệt Đông Nam Á sẽ nhanh chóng tập hợp thành một khu vực chung nhằm đối phó lại các yêu sách này

Với yêu sách ngày càng tăng cao trong khu vực, Trung Quốc đang khiến các quốc gia Đông Nam Á càng ngày càng nỗ lực trong việc quốc tế hóa vấn đề Biển Đông.

Việt Nam và Malaysia đã đưa kiến nghị chung về đường cơ sở vào năm 2009 và Philippines cùng đồng ý phản đối đường chữ U của Trung Quốc lên Liên hợp quốc trong năm 2011.

Theo xu thế này, các quốc gia Đông Nam Á với tinh thần xây dựng một cộng đồng chung sẽ có thể nhanh chóng đề xuất và đạt được thỏa thuận vùng biển chung cho khu vực Đông Nam Á.

Nếu đề xuất này thành hiện thực, Trung Quốc thực sự sẽ bị cô lập trong vấn đề Biển Đông và thường xuyên phải đối phó với lực lượng tuần tra chung của các quốc gia Đông Nam Á.

Theo kịch bản này, nếu các tàu của Trung Quốc gặp khó khăn khi hoạt động tại khu vực có giao thương bậc nhất này, thì không những Trung Quốc không có được nguồn dầu khí tại đây mà ngay cả đường nhập khẩu dầu mỏ chủ yếu vốn phải đi qua khu vực này cũng có khả năng bị gián đoạn, đe dọa nghiêm trọng đến an ninh năng lượng của chính quốc gia này.

 

Hải Quân Việt Nam cho hay sẽ tập bắn đạn thật tại khu vực biển gần tỉnh Quảng Nam vào tuần tới.

Sai lầm gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của khu vực và của chính bản thân Trung Quốc. Rất đáng tiếc là chiến lược này vẫn đang tiếp tục được thi hành với mức độ ngày càng gắt gao.

Nhưng các nước trong vòng tranh chấp không dễ chấp nhận khuất phục Trung Quốc. Mối liên kết chặt chẽ giữa Mỹ và Phillipines, mối quan tâm (cho đến nay) rất đúng mức của Indonesia, nước Hồi Giáo lớn nhất thế giới, vào vấn đề Biển Đông là những bước phản hồi mạnh mẽ vào chiến lược biển của Trung Quốc.

Như vậy có thể nói, mong muốn lớn nhất về dầu khí của Trung Quốc chắc chắn sẽ khó đạt được. Ngoài ra khoản tiền đầu tư khổng lồ cho chiến lược biển cùng với chi phí duy trì lực lượng hải quân nhằm kiểm soát các khu vực quá xa căn cứ sẽ là gánh nặng khổng lồ cho ngân sách.

Không những thế, Trung Quốc tự đánh mất hình ảnh phát triển hòa bình đã xây dựng nhiều năm qua bằng những yêu sách phi lý dựa trên các chứng cứ không được công nhận và thái độ gây căng thẳng mở rộng cùng với ngân sách quốc phòng tăng cao.

Sự thay đổi này có thể sẽ khiến các quốc gia lân cận quan ngại và đặc biệt Đông Nam Á sẽ nhanh chóng tập hợp thành một khu vực chung nhằm đối phó lại các yêu sách này.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và cách hành văn của các tác giả, vốn là thành viên của Quỹ Nghiên cứu Biển Đông.

Nguồn : BBC

Posted in Khi con trưởng thành, Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

Niềm vui đầu tiên

Posted by daothu09 on April 26, 2011

Lần Hội thảo Ngữ học toàn quốc tháng 04/2011 này, tôi được hưởng niềm vui đầu tiên kể từ lần đầu tiên tôi công bố nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ học khối liệu (Corpus Linguistics) tại Việt Nam vào tháng 03 năm 2007. Sau 04 năm trời vất vả vì khoa học: KHÔNG TIỀN TÀI TRỢ và v.v., tôi đã thấy có những nghiên cứu sinh về ngôn ngữ bắt đầu sử dụng các khối liệu tiếng Anh sẵn có sau khi đọc các bài báo của tôi. 

Bước đầu thành công rồi!

Hà Nội, ngày 26/04/2011

Đào Hồng Thu

Posted in Hậu ĐHBK Hà Nội, Ngôn ngữ và Văn hóa, Truyện ngắn và Thơ | Leave a Comment »

Developing languages in the specified fields like one of the methods for resolving the problem of cultural diversities in the processes of regionalization and globalization (3)

Posted by daothu09 on August 20, 2009

24 = Bai bao HTQT 2003Dr. DAO Hong Thu

V. Developing LSP and PSC – one of the methods for resolving the problem of cultural diversities in the processes of regionalization and globalization

Because of the world changes, languages are shifted from the place of a tool to social unity in the countries using that language to the higher and more important place in these countries. The globalization is obviously not only raising the role of languages in every country as a supporting and catalytic factor to the nation’s economic and social developments, but also its prestige on the international ground.

Researches show that the language basis in schools is likely to bring great effect to the development if it proves its ability on education, that is intermediate language basis needs to be used and is able to impart knowledge in primary, secondary, high-school and university education levels. One symbol sample of Japan tells that Japan has been sucessfully becoming a developed country with internationally recognised prestige and respect mainly because languages have been broadly used in education, that has resulted in opening a broad way for the development of technology and industry.

In Vietnam the Law on Education deals with policies and systems, with the improvement of the people’s intellectual standard and the preservation of the ethnic cultural heritage. According to this Law, the State will create favourable conditions for ethnic groups to learn the languages and writing systems of their own and will set up boarding schools, semi-boarding schools, and pre-universities for the children of families settling permanently in regions in specially difficult socio-economic conditions, in order to create a source of training cadres for these regions provided with teachers, facilities, equipment and budget.

The using of national and foreign languages in education always lays the foundation and plays an decisive step to the quality of the countries’ industrialization. Therefore, one of the conditions required for the process of country’s industrialization and modernization is the use of LSP, that means the specified languages in the different fields of science and technology.

As a result, the investment in developing and modernising LSP is necessary and requires being taken first before a technology transfer is carried out. The pre-condition is that in this context, the building and developing languages needs to be attached much importance, essentially building and modernizing LSP. Developing the foundation of LSP is to create opportunities for one language of one developing country, for example, becoming one competitive scientific language in the country’s industrialization and modernization. The popular international cooperations have brought new developments to each nation’s languages, and therefore cultural diversities brings prosper to the international cooperations and the processes of globalization and regionalization nowadays.

It is obvious that cultural diversities are existing because of various reasons. We believe that in the processes of building and developing languages and cultures in the specified fields (in the technological and technical fields) it needs to focus on direct and indirect reasons affecting this process.

The indirect reasons as follows:

– The developments and the changes in social institutions in the way of the regionalization and globalization processes in every country as well as the development of its languages give the country a deserved possition that it might not have had before.

– Different kinds of information, the cultural diversities and its exchange within peoples and the significant development of science and technology have been growing very fast. As a result, it is to appear great demands of language exchange and development among peoples in the form of teaching and learning foreign languages, as well as a number of other practical issues relating languages especially profession ones (technological and technical).

The followings are the direct reasons:

– Great capacity of the human beings receiving more than one language at the same time and taking research on different languages with defined goals and directions.

– Researches and studies on languages and cultural diversities of many countries are always taken more broadly and deepy than those of one country.

– There appears an increasing demand of study on languages and cultural diversities in the specific professional fields.

– The increase of the need for combining the nation’s language studies with settlement of proper issues of multi-languages and cultural diversities.

In the economical and social development processes of human beings nowadays, because of not paying enough attention to LSP and PSC it will lead to uncontrol consequences. It proves to be clear in the following example. Some steel companies could go bankcrupt because it failed to comprehend all the components of PSC and LSP in their professional fields necessary to its activities.   

So, the role of LSP and PSC to the development of a modern society is extra significant. Languages and profession specific cultures bring their direct contributions to the progression of modern technology and science.  

Researches show that in the processes of globalization and regionalization it is able to find out some methods helping dealing with cultural diversities as follows:

– Use the modern native and foreign languages with LSP’s terms in the primary school;

– Developing LSP (national and forein languages) and giving students knowledge of cultural diversities in secondary school;

– Investing in diffusing knowledge of LSP (national and foreign ones) and PSC before any process of technology transfer or developing investment. This does not mean this process should be without practical issues.

– Organizing seminars or workshops on the issues of LSP and PSC for students and staff.

VI. Conclusion

According to our findings, using and developing LSP and PSC are the fundermental methods for resolving problems in relation to cultural diversities in the processes of globalization and regionalization nowadays. To developing countries, LSP and PSC specially ones in the professional branches of science and technology need to be considered as the basis for motivative development of the modern society and need to be used systematically in schools. The using and developing languages for specific purposes do not halt in national languages, but to broadly used and rapidly developed foreign languages necessary for the international cooperations and integration. Because all the diversities of all the peoples’ cultures will be completely magnifested through the languages and profession specific cultures used by peoples in the cooperations.

Finding methods which are recollected in the paper for overcoming challenges in the international integrating processes is only one of the ways for researching different methods in the wider range, as the paper basically concerns questions of cultural diversities in spheres of science, technology and investment development processes. Moreover, the purpose here is the leading part of alive language of specialities in present processes of rapid development of science and technology, and it is supposed for development of languages of less developed countries, and also economically undeveloped areas at various levels represent.

Finally, it is necessary to pay special attention to the language development (foreign and national languages) and profession specific cultures for developing countries, especially in a systematic way to the development of languages for specific purposes in the various fields of science and technology, and to the further development of cultural exchanges between peoples in the world.

Reference

1. Lioyd Fernando. Culture in Conflict. Graham Brash, Singapore, 1986.

2. Edited by Asmah Hap Omar. National language and communication in multilingual society. Kuala Lumpur, 1987.

3. Benedict R.O G. Anderson. Language and power. Cornell University Press, Ithaca and London, 1990.

4. Nguyen Huy Can. Vietnamese in the industrialization process in Vietnam. Department of linguistics UKM – DBP. First international seminar. Nov. 15-16, 1994 Kuala Lumpur Malaysia.

5. Khong Dien. Regional and ethnic diversity: How should the State approach this reality in cultural aspect? Mag. “Vietnam’s urgent issues”, Files on Vietnam, 01 – 02 / 2003.

6. Vietnam Newspapers and Magazines.

7. Dao Hong Thu. Problem of languages and cultures in the sphere of training technical students. The 19th HUT’s Congrate, 2001.

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

Developing languages in the specified fields like one of the methods for resolving the problem of cultural diversities in the processes of regionalization and globalization (2)

Posted by daothu09 on August 19, 2009

24 = Bai bao HTQT 2003

Dr. DAO Hong Thu

IV. Vietnam – its languages and cultural diversities of its nations 

Nowadays, Vietnam is a unified country with numerous ethnic groups living side by side. Each ethnic group has its own characteristics and all contribute to Vietnam’s diverse culture. Studies conducted by the Institute of Ethnology show that Vietnam has 54 ethnic groups belonging to different ethno – linguistics families. According to researchers throughout the country, there are three main groups: 

1. The Austro – Asiatic family (97.5% of population). It includes 40 ethnic groups with different languages such as Viet – Muong, Mon – Khmer, Hmong – Dao, Tay – Thai and Ka Dai.

2. The Malayo – Polynesian (Austropolynesian) family (1.09% of population). It has only one language and five ethnic sub-groups.

3. The Sino – Tibetan family (1.35% of population). It includes nine ethnic groups and two languages: Sino – Han and Tibeto – Burman.

Among the enumerated above linguistic groups, the Vietnamese (Viet – Muong linguistic group) is used as the nation’s language. Vietnam, lying in a favourable position at the confluence of East-West and North-South population flows, represents the convergence of numerous ethnic groups with varied languages and cultural diversities. Among these groups, some are indigenous, others migrated from adjacent regions during the course of the country’s development.

From this, Indochina and South China are zones of ethnology and history. It is able to be considered that like many other zones throughout the world, borderlines of ethnic groups and their languages on nation borders and in the adjacent regions or territories are not easily defined. Therefore, ethnic groups living on national borders or  in adjacent regions often share the same cultural origin and frequently come and go across their borders casually.

Generally, Vietnam can be divided into two major ecological zones. These are the plain zone, including cities, and the midland and mountainous zone. In ecological and cultural areas, each zone can be sub-divided into different sub-zones. Each zone has its own ecological system and interactions between the natural environment and the people are also diversified. The distribution of the population is often uneven and incongruous. Some zones have varied ethnic and linguistic groups living together. The plain zone, comprising one-fourth of the total territory, accounts for three-fourths of the total population, while the mountainous and highland zones, with three-fourths of the total land area, accounts for just one-fourth of the total population of the country.

The Viet (or Kinh) group used to live chiefly on the plains and coastal regions. Nearly half a century ago a substantial part of the group moved to the mountainous provinces to earn their living. Now the Viet often live together with other groups in the different places throughout the country and account for about 68 percent of the total population.                           .

The people belonging to the Tay-Thai linguistic group chiefly live in the mountainous regions of the North.

The people belonging to the Hmong-Dao linguistic group chiefly live in the midlands and highlands of mountainous provinces from Nghe An northwards.

The people belonging to the Tibeto-Burman linguistic group tradi­tionally live along the Vietnam-China border.

Until now, those ethnic groups of the Malayo-Polynesian family have been characterized by matriarchy. They live between the two linguistic sub-groups of the Mon-Khmer in the north and south of the Central Highlands belonging to Gia Lai, Dak Lak, and Lam Dong provinces and in the western Central coastal provinces of Binh Dinh, Phu Yen, Khanh Hoa, Ninh Thuan and Binh Thuan.

When the country was divided into two until 1954, Vietnam had a shifting distribution of ethnic groups. Apart from the move­ments of the Viet, other ethnic groups, such as the Chinese, Nung, Tay, Thai, and Muong, who had settled in mountainous regions in the North, began to move to the South, and to provinces in the Central Highlands.

In contrary, other local groups which had tradi­tionally lived in the Central mountainous and coastal regions and in the Central Highlands, moved northwards, many of them settling in mountainous areas. After 1975, when the country was finally unified, most of these people returned the South. This has caused appearing cultural diversities and affected use of Vietnamese as a language.  

Members of the Tibeto-Burman, Ka Dai, Mon-Khmer or Hmong-Dao languages usually live in the highlands or near the border; their houses – influenced by their itinerant life-style – are usually not very sturdy. Minorities with sedentary tradition such as the Tay, Nung, Thai, and Muong usually build their houses from stronger and more reliable materials. Depending on their customs, some ethnic minorities live in houses-on-stilts while others live in ground-level houses or semi houses-on-stilts. Even in the same ethno-linguistic group there are differences. For example, in the Viet-Muong group the Viet live in houses on the ground while the traditional homes of the Muong, Tho, Chut groups are stilt houses. Most groups live in houses-on-stilts, except for the Hmong-Dao group, some Nung and some Tibeto-Burman groups live in houses on the ground. Due to changes in the environment, these groups now are inclined to move gradually from houses-on-stilts to houses on the ground.

In the areas along the Vietnam-China border in the North West, where in the  past invaders, bandits and robbers frequently caused troubles and damage, the people lived in houses on the ground with thick fortress-like walls and the villages were designed in a defensive style. The village house was placed in the centre; the villagers’ houses encircled it. The village was protected by strong fences. For the purposes of defence, the houses were adjacent to each another. Every village had two gates: the main gate and the subordinate one and both were strictly guarded.

Mentioning clothes and food, those of mountain people were diverse and were usually governed by the natural conditions and local supplies of plants and animals. However, in Vietnam, rice has always dominated the structure of food for the most of the ethnic groups. The largest compo­nent in the daily food of people living in the midlands and bare-hill areas contains manioc, and in the highlands and mountain­ous areas the staple food is corn.

The ethnic groups in Vietnam wear clothes in the very diverse ways. The Viet wear their national dresses such as “ao dai” for Viet women with varied harmonious colours. Meanwhile, the favourite colours for most mountain people are indigo (dark blue) and green, being the colour of forest trees. Each ethnic minority, and each locality, has a diverse style of tailoring, patterning and dressing; generally, these styles are tidy, and suitable for traveling in mountainous regions. For example, people wear short-sleeved coats or coats that mould the body, short trousers; trousers are often very large, skirts are also large and convenient for climb­ing hills and mountains.

Before the twentieth century transportation and the means of transport whether in the rural plains or in cities often included long bamboo frames with elastic shoulder-poles to carry things effectively. However currently this mode is not in action in the cities. It is not suitable for mountainous regions. The minorities in the northeastern region carry things with frames and poles which are very short, so the poles can be inserted into basket handles. The Tibeto-Burman, Hmong and other groups in the west, from north to south, often use gili (pickaback basket). The Cham and some of the Viet (who live near rivers or hollow lands) often carry things on the heads. In places near large rivers or streams, people use boats, rafts or floats. Swallow tail boats and piraguas are widely used because these can easily weave their way up and down. For the highlands, the horse is a multi-purpose animal for travel and transport – it is not too fastidious about roads and does not require much investment.

In being concerned with hunting and gathering, most mountainous minorities, particularly those living high in the middle of moun­tains, lived on cultivating their upland fields. Upland fields have one advantage over water fields. They save labour, save money for fertilizers, for irrigation and the results are good. Slash-and-burn farming may destroy forests and the environment, but the mountainous minorities consider that with a density of population practising rotational crops every two or three years then leaving the land fallow for 10-15 years before returning, tropical trees and plants have good conditions in which to resuscitate and ameliorate the soil. When burning to make the fields, they accumulate experience of how to burn in general and how to burn forest, to make a field so that the fire will not expand and the soil will not erode. All these are arts and knowledge that have been handed down from generation to generation of their localities and their ethnic groups. It raises questions about the relationship between the population and the environment. While the proportion is increasing, the environ­ment is decreasing rapidly.

In relation to water cultivation, this is performed only by those who live in the lowlands and valleys at the base of moun­tains such as the Tay, Nung, Thai, Muong, Ede, Mnong, or Co ho. Meanwhile, the minorities in the midland regions such as the Dao, San Chay, Tho, Hre and some of the Hmong group use a number of techniques to use the plains, hills or mountains to create their farms and terraced fields. If the Viet in the plains and coastal areas have created a system of dykes and canals to combat floods, control irrigation, clean out the soil; then in the valleys, the minorities – typically the Thai, Muong, Tay and Hre – have created a peculiar system of irrigation with water-wheels carrying water to each field in a very scientific way.

Being aware of the rapid population growth, which is not in line with its socio-economic development, the State developed a policy on population and family planning 40 years ago. Nevertheless, this policy has not been strongly deployed or strictly carried out for the minorities living in mountainous regions. For a while those who lived on mountains were actually encouraged to increase their populations (Decision 94/CP dated May 1970). As a result, the natural growth rate of some minority groups has been very high. The annual growth on average during the last decade (1989-1999) was 1.7 percent throughout the country, in which the Viet account for 1.6 percent, while other groups such as the Hmong: 3.4 percent, the Sila: 3.5 percent, the Pa Then: 4.1 percent, and the Xinh Mun: 5.0 percent. Also, the growth of popu­lations in some mountainous regions has become a problem. Apart from planned moves, there have been free moves of popu­lations to the Central Highlands, to the coastal mountainous provinces in the Central region and to the eastern provinces in South Vietnam. This is a problem for the authorities of those localities. In addition, in those regions where there is the movement of ethnic groups, the languages used by them have become affected each other concurrently with the  cultural diversities appearing and changing rapidly in the development processes.

Besides the diversity of the material culture, the immate­rial culture also involves social customs of the ethnic groups of Vietnam. They are represented in marital customs, birth, chil­dren’s education, funerals, festivals, music, dances and creeds. Within the framework of this article, we are only able to enumerate some of these concerned with cultural diversities and affecting languages’ development. The cultures are changing rapidly with changes in the natural and social environment, and in the process of indus­trialization and modernization of the country. Nevertheless, it would be a defect not to say something about the languages and writing systems of these groups.

In Vietnam each of the 54 ethnic groups has its own language. However, some languages are no longer used (the Odu language, for instance). Furthermore, each ethnic group has several local sub-groups. In many cases, the languages of these sub-groups contain their own peculiarities, creating a mosaic of Vietnam’s diverse languages. In linguistics alone, our country may have more than 100 different languages. The situation relating to writing is diversified as well. While other ethnic groups have their own writing systems, some minorities still have no writing systems. Researches show that there are generally four ethnic linguistic groups with writing or without writing as follows:

1. Ethnic groups having their own, long – established writing systems: 5 groups (Thai, Lao, Hoa, Cham, Khmer).

2. Ethnic groups having Nom, Chinese-based languages: 10 groups (Tay, Nung, Giay, San Chay, San Diu, Ngai, Lo Lo, Muong, Tho, Dao).

3. Ethnic groups having Latin-based languages: 18 groups (Hmong, Bru-Van Kieu, Taoi, Co tu, Gie-Trieng, Co, Xu dang, Hre, Bana, Giarai, Ede, Mnong, Chu ru, Raglai, Co ho, Ma, Xtieng, Chu ro).

4. Ethnic groups without writing: 20 groups (Pathen, Phu La, La Hu, Cong, Si La, Ha Nhi, La Chi, La Ha, Co Lao, Pu Peo, Lu, BoY, Kho mu, Khang, Mang, Xinh Mun, Odu. Brau, Rmam, Chut).

It is clear that the rural environment in Vietnam is much diversified. People in mountainous areas are leading diverse socio-economic and cultural lives. However, their populations are increasing rapidly and the environment and natural resources are deteriorating. A tendency to regionalization and globalization as well as the process of indus­trialization, modernization and particularly the negative sides of the market economy have all had a significant impact on the people living in these areas.

In the processes of researching the problem it becomes more obvious, local intellectuals and ethnic intellec­tuals have come from the specific natural and social conditions. Now appearing the problem in fact and having no easy answer, when these conditions have changed, are how we can, on the one hand, preserve the values of the past and on the other, keep abreast of the rapid changes that are taking place every day. In my opinion, it is able to be resolved step by step on the basis of languages and understanding cultural diversities and its nuances.

The Vietnamese Communist Party has paid specific attention to the issue of Vietnam’s ethnic groups and their cultural heritage. The Party considers making and imple­menting policies on ethnic groups strategic tasks of the Vietnamese Revolution. Over half a century since our country gained independence, besides enacting the Constitution (over different periods of time) and a system of laws, in which the Constitution as well as many other laws dealt with the diversity of ethnic groups and culture, the Vietnamese Party and State have also promulgated hundreds of directives and decisions in the fields of economy, society, ethnic groups’ cultures and moun­tainous regions. Since then, there have been many specific poli­cies in these fields. The need in the processes of renovation in Vietnam is to accelerate relevant research to understand the concrete differences of each region and each ethnic group. On that basis, supplement, build on and better implement policies for ethnic groups, avoid making mistakes, stereotyping, arbitrary imposition, and improper forms of organization in the process of building and developing the economy, culture, and society in ethnic regions. (According to the Resolution of the 6th Party Congress).

The issue of language and writing recorded in this Resolution must be regarded as a spiritual step from the previous ordinances and decisions. Thus, the language and writing system of each ethnic minority in Vietnam, is not only a valuable treasure of that minority but is also a cultural heritage for the whole nation, of the ethnic minorities where their own languages are used in conjunction with the national language (According to the Decision No. 53/CP). Since 1990, Vietnam’s National Assembly has adopted and promulgated a number of laws concerning ethnic groups and ethnic groups’ culture.

Up to now, the system of universities which were set up in the mountainous regions, such as Thai Nguyen University in the North-East region (comprising Teacher Training University, Medical University, Agriculture University, etc.); Highlands University in Buon Ma Thuot, Da Lat University; North West University in Son La (newly-founded), there still exist two pre-universities for children of the minorities (one in the North and the other in the South), and particularly, a system of boarding schools and semi-boarding schools. Such schools were constructed not only for each region but for all provinces, districts, and even for several communes. In many schools, pupils from any minority can dress in the traditional costumes of people of their minority group. Numerous folk songs, dances and tradi­tional games are performed and popularized. At several univer­sities the local knowledge and the minorities’ cultures have been included in the curriculum.

It is clear that in the policies on culture in the period 1990 until now, the 5th Resolution of the Party Central Committee (8th tenure) is on “Building and Developing an Advanced Vietnamese Culture Imbued with National Identity.” This Resolution is solely on culture, and touches upon it in almost every respect on the tasks and solutions in a specific as well as theoretical and long-term manner. It is able to be seen in the Resolution, for example, over 50 ethnic groups living in our country have their own cultural values and identities. These values and identities combine and complement one another to enrich Vietnamese culture and strengthen national unity, thus laying the foundation for maintaining equality and bringing the diversity of fraternal ethnic groups into full play. The cultural heritage is the priceless treasure which links ethnic communities together. It is the kernel of ethnic identities, the foundation for creating new cultural values and exchanging relations. The traditional (scholarly and folk) and revolutionary cultural values, must be preserved, inherited and brought into full play; the policy on preserving and bringing our ethnic cultural legacies into play must focus on both tangible and intangible cultures. Inventorying and collecting the traditional treasure (including scholarly and folk cultures) of the Viet and other minorities; translating and publicizing the Han-Nom cultural treasure roust be carried out immediately. Historic and cultural sites, beauty spots, craft villages, and traditional handicrafts must be well preserved. Masterly artisans in trades and tradi­tional handicrafts must be well treated. (Resolution No. 03 NQ-TW on 16 July 1998).

As mentioned from researchers throughout the country, during about half of a century, the preservation of cultural legacies in general as well as the restoration, inheritance and improvement of ethnic and local cultural values in Vietnam have been steadily developed. In fact, programmes and projects to collect and preserve our ances­tors’ cultural heritage, in both tangible and intangible forms, have been organized. If in their region the Viet have a movement to draw out village conventions, then the mountainous minorities also have a movement to draw out regulations from village level to commune level based on their local traditions and customary laws and with consideration for the issues that have resulted from challenges in their natural and social environments. Among these are conventions about the restoration of their traditional costumes for holidays, festivals or rules on forms of holding festi­vals in a locality that inherited their ancestors’ traditions.

During the last few years, among many ethnic minorities, and in many localities, regions, or nation-wide, sports festivals, stage festivals, fashion contests, gastronomic, calligraphic, family and descent annals, handicrafts, fine arts exhibitions, and craft village presentations have been organized with a view to preserving and developing the ethnic groups’ cultural heritage. As well as the Voice of Vietnam – the national broadcasting station which has the broadcast in Vietnamese -, other local broadcasting stations have their own broadcasts in the languages of the minorities that capture the majority in the region; many publishers at both central and local levels have published scientific, cultural, literary and artis­tic works in the minorities’ languages or in bilingual form: Vietnamese and one of the minorities’ languages.

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »

Developing languages in the specified fields like one of the methods for resolving the problem of cultural diversities in the processes of regionalization and globalization (1)

Posted by daothu09 on August 18, 2009

24 = Bai bao HTQT 2003

Dr. DAO Hong Thu

Abstract

Developing languages in the specified fields like one of the methods for resolving the problem of cultural diversities in the processes of regionalization and globalization

Nowadays, in the international integrating processes, the influence of the nation and the penetration to each other in all fields of activities of the human society in the world have already created a very copious and complicated picture.

The paper aims to research issues on developing languages in the specified fields and universalizing profession specific cultures like one of the methods in resolving the problem of cultural diversities which become highly discerning fact in joining into the processes of regionalization and globalization nowadays and is concentrated on clarifying the main methods for resolving different problems appeared due to cultural diversities in the scientific and technological handing over processes in which the languages and cultures in the specified fields of economical and social developments of the human society seem to have the most important role. This paper also concerns the action of the languages (nation language and minorities’ languages) and cultures in Vietnam.

I. Introduction

The 21st century is said to be the century of culture, science and technology which are desecive to each country’s development. The world is thoroughly prepared with its luggage of culture ready for integrating into the new era – the era of science and technology inventions, the era of connection between nations, countries and continents. Among the culture luggage of the human beings, which is paid the most particular attention to is the culture diversities of nations and countries. This has significant meaning to the process of sweeping global developments when we are faced the trend of gradually broaden gap in the knowledge that becomes increasingly difficult to be filled. Particularly in the global revolution of technology and science, it requires us to have international cooperations. Because without this leading factor, it is much more difficult for us to take research on oceans, the universe, the earth’s ecological system …

In my opion, the environment is possibly considered the natural phenomenon of the nature and the settlement of questions concerning on the environment is to maintain human activies in suitable attitudes to laws of the nature. Simultaneously, it is possible to count language the natural phenomenon of a human society and the settlement of questions concerning on the language problems is to maintain human activies in suitable attitudes to laws of the social development, ensuring the efficiency of the regionalisation and globalization processes. In fact, the language exists and develops on the basis of the nation’s culture. The cultural diversities are existing because of various reasons. So, it is necessary to originate from source reasons in order to overcome different challenges concerning cultural diversities in the processes of regionalization and globalization.

This part of the paper will bring into focus the issues on the specific fields of human being’s activities in which languages for specific purposes and profession specific cultures play the leading role. In order to be more convenient to closely monitor the content of this paper, it is to call the languages using in all the specified fields of the economical or social development, e.g. technollogical transfer, developing investment and etc. the languages for specific purposes (LSP). It is also to call the cultures at any profession or business fields the profession specificcultures (PSC).

II. Some points of cultural diversities and languages’ affects on the development processes

In the recent international integration processes, the cultural diversities of different countries in the world are simultaneously facilitating and obstructive factors to international exchange and scientific and technological development including technology transfer and developing investment. It is experienced that in the global integration processes, science, technology and investment have the trend of converge and synthesis of knowledge on technology from nations, countries. On the contrary, cultural diversities increasingly expose its distinctive features in those processes. Even in each country, the distinctive feature of its diversities are often manifested strongly in the process of globalization and regionalization. For instance, in Vietnam for ethnic groups with a small population, such as the Odu, Brau or Rmam groups, each accounting for 0.004 percent of the total population, maintaining the language and preserving traditions create more challenges in the development processes.

The cultures are changing rapidly with changes in the natural and social environment, and in the processes of industrialization and modernization specially of developing countries. In our opinion, the cultural diversities in this case can be resolved on the basis of linguistic and cultural issues.

As it is known well, a language is not only simply the means of communication, but also the means of developing the essential forms of a nation’s cultural and spiritual life. Only the mother tongue can help to understand the most subtle nuances of spiritual life, so that everyone in a linguistic community can understand each other thoroughly. The question here is that the foreign languages from countries joining in the processes of scientific and technological transfer must be updated and universalized together with the development of nations’ languages.

It is not difficult to realise that the language in all the fields of human beings’ life plays an important role in every country’s development. In developed countries, such as in Japan, USA, the modern linguistic issues have been often completed first in the comparison with other issues supporting to the nation’s development. Meanwhile, in somewhere of the developing countries, the procedure is in the contrary direction. That means the matter of languages is ussually got attention following other matters. We believe that this is one of the reasons making cultural diversities obstructive to the processes of advanced technology transfer and developing investment due to the different languages of partners participating in those processes and the gap between them in having a thorough grasp of languages for specific purposes and profession specific cultures.

III. Some points of profession specific cultures in the international integrating processes

It is the fact that the industry development of one country will not fulfill sucessfully its goals if the society is not ready for renovation. And innovation will in turn not help the industrialization and modernization whenever that society is not ready in its psychology and material atmosphere. In order to maintain cultures’ values during the processes of globalization and regionalization and in order to prevent nuances of cultural diversities from developing in the direction of causing contradiction at work, LSP and PSC are necessary requirements.

The researches show if we pay attention only to the cultural diversities in general but ignore PSC in the specified fields of science and technology, for instance, the processes of advanced technology transfer and further the international integration may face many difficulties. We can see this issue very clearly in the symbol example of development investment. In this example, the investment (particullarly in constructional investment) is ussually carried out in a slow pace due to unproper attention paid to PSC in the specified fields of science and technology. In some places, there was even contradiction that led to conflict as shown as the following example: “Malaysian police arrested 29 Vietnamese and 4 Indonesian workers due to their fighting early this November. This was reported to be the second clash between the two countries’ workers by the reason of misunderstanding and difference of languages. The fighting happening at a company in Rembau (Malaysia) made injured some workers of both two countries. The initial reasons as defined were still of misunderstanding and difference in their languages. After informed, Malaysia’s Ministry of Human Resources asked the workers’ users in Malaysia to conduct orientation programmes for foreign workers so that these workers could be familiar with Malaysian law, language, culture and customs. According to the Ministry, these such programmes could prevent regrettable events from happening due to misapprehension among foreign workers themselves. Two months ago, at Garment and Textile Company Hualon Coporation of Malaysia, 11 workers of Vietnam and Indonesia were brought to court for trial because of fighting. Immediately after that, Malaysia asked the workers’ users and the foreign enterprises, who were in charge of taking workers abroad for working, to carefully examine workers’s capacity of foreign language. Malaysia said this had been the fourth fightings which related to foreign workers this year.” (from newspaper Capital Labour, issue number 45 (497) on Tuesday November 11, 2003.)

Profession specific culture in each field of science and technology or investment relates closely to the language of that one. In the scope of this paper, we only focus on languages of those fields. According to our recent studies, it is the uncompleted definition of LSP’s role in the different specified fields of the economical and social development processes nowadays that creates difficulties in the global integration processes, particularly in the transfer of advanced technology and developing investment. That not only results cultural diversities in being more complicated, but that is in many cases causing unpredictable consequences, and even conflicts.

The capacity of using languages, essentially LSP and PSC in the different fields of science and technology or investment becomes major condition in the processes of globalization and regionalization. In those processes, the language takes the crucial role. Because the advanced technology transfer in the industrialization and modernization requires local experts, who are proficient in the language of the technology transfering country, in understanding cultural manners of partners from countries transfering technology or developing investment, also in having one’s grasp of PSC in the transfering or investing fields. In the contrary situatiuon, the transfer or investment will happen at a very slow pace. So, the cultural diversities create opportunities to present and cause difficulties for the people, organizations or even countries taking participation in those processes. No one can guess what might happen when appear problems relating the cultural diversities.

Furthermore, the question is that the local experts should hand over to farmers knowledge of LSP and PSC. Conversely, the farmers are in difficulties to be able to satisfy demands of the advanced technology and from the native or foreign investors. The following example can be a clear proof about this: ” Most of Vietnamese farmers have the custom and the habit of doing business at low stakes and separately. Their producing land is originally ragged, but they just only want to sell rice after harvest immediately in the field to private dealers, provided it does not cost much labour drying, cleaning and bringing their rice for far… Furthermore, they have another very dangerous habit, that is: Taking the rice harvested in previous crop for breeds in next crop, which results in the gradually low quality of the rice. Even when they begin doing business with businessmen, although they had signed contract from the beginning of the crop, they were still willing to break the contract if the price in the market in the moment after the harvest was higher than in the contract. The farmers can not be dealing with business in the market-oriented economic mechanism by themselves. It is necessary to establish more cooperatives to help enrich the farmers from their fields as well as to help ensure the quality of Vietnamese rice.” (from newspaper Labour on Tuesday, November 11, 2003)

Posted in Ngôn ngữ và Văn hóa | Leave a Comment »